PDA

View Full Version : Tài Liệu ROCK - Nên Biết (t-rock mtv-fm)



S.C
04-06-2003, 09:28 PM
Tac Gia : t-rock (mtv-fm)=
ROCK ZONE----------------Rock LiBRock -

Rock'n'roll: những bước thăng trầm

Mt số những cột mốc chính của nhạc Rock ( Rock'n'Roll ) từ những năm thuộc thập niên 1950 đến 1960 :
- Thập niên 1940 : Phát triển tại Hoa Kỳ nhạc rhythm'n'blues ( Joe Turner, T.Bone Walker, Jimmy Witherspoon, sau đến Ray Charles hoặc Otis Readding ).
- 1955 : Thành công rực rỡ của bản Rock around the clock (Đi lắc lư xung quanh đồng hồ ) của Bill Haley. Alan Freed tổ chức buổi trình diễn nhạc "rock'n'roll" ở New York.
- 1956 : Elvis Presley trở thành ngôi sao số 1 của nhạc Rock. Phong trào lan sang Anh ( Tommy Steel, Marty Wilde, Vince Taylor, Billy Fury, Cliff Richard và ban nhạc Shadows ).
- 1958 : Đĩa nhạc Rock đầu tiên ở Pháp ( Danyel Gérard ) khởi đầu làn sóng từ nhạc "yé - yé" đến nhạc "Golf Drout".
- Cuối thập niên 1950 : Hai anh em Evely tạo ra thứ nhạc giữa Rock và Folk, báo hiệu sự xuất hiện của ban nhạc Beatles.
- 1960 : Ra đời nhạc tuýt ( twist ) với Chubby Checker, Joey Dee, Louis Prima, Frankie Avalon … nổi tiếng khắp hành tinh. Thoái trào của nhạc Rock.
Rock and Roll ( nghĩa đen là "Lắc và Lăn", câu nói lóng của người da đen khi tán tỉnh nhau ) ra đời thập niên 1950, trở thành nền tảng chủ chốt cho toàn bộ âm nhạc của lớp trẻ trong suốt bốn chục năm qua, thoạt đầu ở Hoa Kỳ, sau lan ra khắp thế giới.
Âm nhạc của một thế hệ. Tên của nó do Alan Freed (được mệnh danh là "disc jockey", tay đua ngựa trên đĩa hát), bản thân nó được khẳng định qua ban nhạc nổi tiếng lừng lẫy "Rock around the clock" của Bill Haley rồi được phổ biến rộng rãi qua bộ phim Blackboard Jungle ( Dữ dằn ) của Richard Brooks. Phong trào này lan rộng nhanh chóng như vậy là nhờ "kỹ nghệ" giải trí ( các đài phát thanh, các xưởng sản xuất đĩa hát, điện ảnh ) và do nhu cầu của lớp trẻ, học sinh, sinh viên, lực lượng tiêu thụ lớn nhất của các phương tiện truyền thông đại chúng nghe - nhìn, đồng thời đang có xu hướng tạo thành một lớp người riêng rẽ và độc đáo. Trong thập niên 1950, lối sinh hoạt đạo đức nghiệt ngã cộng với chủ nghĩa Mc Carthy ở Hoa Kỳ đã gây cho lớp trẻ nhu cầu "nổi loạn" chống lại những thứ gì được coi là chính thống, một thứ nổi loạn "không duyên cớ".
Tâm trạng "nổi loạn không cần duyên cớ" là mảnh đất rất tốt để phát triển các hình thức âm nhạc xuất phát từ nhạc Jazz, nhất là khai thác những âm thanh "nổi loạn" trong đó. Sử dụng tiết tấu của âm nhạc da đen rhythm'n'blues, nhạc Rock là dị bản da trắng của nó để thích hợp với thị trường đại chúng lợi nhuận cao. Phối khí phức tạp của nhạc Jazz bây giờ được thay bằng tiết tấu và chỉ cần một cây ghi ta điện. Cả chất nhạc swing, cả chất nhạc blues đều được pha trộn và đẩy cao trong nhạc Rock, với tiết tấu mãnh liệt, đáp ứng đươợ nhu cầu tiêu phí sức khỏe thừa thãi của lớp trẻ.
Trở thành hình thức âm nhạc thời thượng, Rock tạo nên vô số băng nhạc nhỏ gồm vài người một, mặc quần bò, bơludông đen, đính các mảnh da thuộc, tóc để dài chùm lên vai, di chuyển bằng mô tô đến các trường, các xóm heo hút, các phố ngoại ô. Khác với nhạc Jazz, ở nhạc Rock, ca sĩ đóng vai trò trung tâm. Nhanh chóng hạ bệ "thần tượng" Haley đã quá già, Elvis Presley trở thành ngôi sao tuyệt đối của nhạc Rock, gây sự bằng thứ âm nhạc "tàn bạo" và kiểu lắc lư "dâm dật" được coi là biểu tượng cho sự khiêu dâm. Lớp trẻ hâm mộ gọi anh ta là "Elvis the pelvis" ( Elvis ngoáy mông ).
Trong thập niên 1960, Elvis được mời đóng trong một số phim tồi của Hollywood cốt để tiếng hát của anh làm phim bán chạy. Thị trấn Memphis quê anh trở thành nơi hành hương của lớp trẻ từ khắp nơi trên Thế giới. Theo vết xe của "Vua" Presley là cả một loạt "rockers" ( người chơi nhạc rock ) khoe sự thô bạo và dâm dật của mình. Phong trào nhạc Rock tạo điều kiện cho rất nhiều chàng trai cô gái da đen thoát khỏi cuộc sống tối tăm trong các khu phố da đen và trở thành nổi tiếng như Little, Richard, Chuck Berry, Fats Domino, Ray Charles …
Là sản phẩm của hiện tượng "Mỹ hoá" lan rộng khắp Tây bán cầu vào thập niên 1950, nhạc Rock, nhất là Rock Da trắng đã nhanh chóng bành trướng khắp Châu Âu, trở thành một trào lưu văn hoá "lớp trẻ" bao trùm mọi thứ. Các nhóm nhạc Rock đua nhau xuất hiện : nhóm "Tất đen", nhóm "Mèo hoang", nhóm "Hải tặc" và đủ các thứ tên gọi dữ dằn khác. Tại Anh, phong trào bắt đầu bùng lên từ 1956, dập theo kiểu Mỹ, tồn tại cho đến lúc họ thấy cần phải tìm ra nét độc đáo riêng. Ban nhạc Beatles ra đời chiếm được sự hâm mộ lớn lao của lớp trẻ trên khắp Thế giới. Sang thập niên 1960, trên thực tế nhạc Rock bắt đầu thoái trào, nhường chỗ cho nhạc Pop. Tuy nhiên, dư âm của nó còn kéo dài cho đến nay với những ban nhạc mới ra đời, do tiết tấu hừng hực và chất hiếu động đến mức bạo liệt của xã hội đô thị hiện đại

S.C
04-06-2003, 09:29 PM
Những ảnh hưởng của các dòng nhạc khác tới Rock 'n' Roll:

Bluegrass : Là một nhánh được tách ra từ country, bluegrass đã lột xác hoàn toàn và trở thành một biểu tượng riêng biệt ở giữa thập kỷ 40 khi Bill Monroe biến đổi chất dân gian (hill-billy) để kết hợp với country, blues, jazz, gospel và dân ca Celtic.
Gospel : Thuật ngữ này được tạo ra từ thập kỷ 20 bởi Thomas Dorsey, một ca sỹ hát nhạc blues bang Georgia, người đã có những thành công trong việc chuyển các bài hát nhà thờ sang dạng phổ thông hơn. Ngay lập tức, dòng nhạc này trở nên nổi tiếng trong các nhà thờ dành cho người da đen và được phát triển rộng rãi đến cả những người da đen không theo đạo.
Những bài hát gospel được bắt nguồn từ những lời cầu nguyện thiêng liêng và rõ ràng là quyến rũ hơn những bài thuyết giáo Baptist rất nhiều. Những nhóm đồng ca gospel ở cuối thập kỷ 40 và trong thập kỷ 50 với một ca sỹ hát chính hát giọng cao vút đầy ngẫu hứng đã là cảm xúc để các dòng nhạc như Acapella và Doo-wop phát triển trong những năm tiếp theo của năm 50.
Jazz: Một dòng nhạc đầy ngẫu hứng và mang trong mình nhiều dấu vết đối với sự thay đổi quan niệm về cấu trúc, nhịp độ và sự tự do trong âm nhạc. Phong cách nhạc đầu tiên được gọi dưới cái tên Jazz được xuất phát từ New Orleans(Dixieland), với một nhóm nhỏ có thể ứng khẩu ngay lập tức những giai điệu du dương . Trong thập kỷ 30, nghệ sỹ kèn trumpet Louis Amstrong và một số nghệ sỹ khác đã bắt đầu tách riêng phần solo của mình ra khỏi những nốt đệm thông thường với những mức độ tự do hoàn toàn khác nhau, sự tự do này đã ảnh hưởng rất lớn trong một vài thập kỷ sau với những cuộc cách tân trong cách hoà âm và tiết tấu của một số ban nhạc lớn vào thập kỷ 30 như Duke Ellington,Benny Gooodman, bee-pop ở thập kỷ 40 như Charlie Parker, Dizzy Gillesppi, và những thay đổi hiện đại trong thập kỷ 50 của Thelonius Monk.

S.C
04-06-2003, 09:30 PM
Sự sụp đổ của nhạc Rock 'n' Roll ở MY
Sau thập kỷ 50, rock 'n' roll đã bắt đầu dần dần rời xa cái bản chất mộc mạc của nhạc country để tiến vào vòng xoáy thương mại với những ngôi sao mới nổi và các ca khúc tình yêu cho giới trẻ khá nhạt nhẽo(hi`, giống bây rờ quá ha). Rock 'n' roll đã mất dần đi bản sắc thật sự của mình , mất đi tính nổi loạn và đã trôi dạt vào vực thẳm âm nhạc của teen music với một ít trống mạnh mẽ còn sót lại.
Một sự phát triển không may mắn khác diễn ra khi phong trào đấu tranh xoá bỏ nạn phân biệt chủng tộc trong các nhà trường đã lan rộng. Trước đó, Rock 'n' roll đã là một nhân tố tiến triển tích cực nhằm xoá bỏ hàng rào màu da( có thể kể đến ngôi sao đầu tiên chính là Elvis Presley với những bản nhạc blues pha lẫn country và có đôi khi là cả gospel). Những năm cuối của thập kỷ này là những năm đáng nhớ với Pat Boone, Debby Reynolds và Tab Hunter cùng các top hits không chút pha tạp của mình, hay các nghệ sỹ da đen mang đậm chất Blues buồn bã thờ ơ như Johnny Mathis và Sam Cooke.
Sau đó, ảnh hưởng của Rock 'n' Roll đã thật sự phai nhạt để đánh dấu một Tin Pan Alley với chất nhạc thuần contry đã nổi lên như một chất liệu thay thế mới.
Trong khi đó, ở bên kia đại dương, tình hình lại khác hẳn. Những thanh niên Anh quốc một lần nữa tạo ra Rock 'n' roll rừ điểm xuất phát và chính khoảng cách đại dương đã giúp họ có một cái nhìn toàn vẹn không bị ảnh hưởng lai tạp. Khi mà dân Mỹ đã bắt đầu chuyển sở thích của mình sang Pop nhẹ với các thần tượng trẻ tuổi và Twist, dân Anh vẫn giữ lại được khẩu vị với Rock 'n' Roll và R&B. Một làn sóng mới các band như the Beatles, the Rolling Stones, Dave Clark Five, Animal, Kinks, ... đã khôi phục hình dáng của Rock 'n' roll và bá chủ cả thế giới với giai điệu của mình.
Sự xâm lược của nhạc Anh năm 1964 đã làm cho dân Mỹ phải thức tỉnh và một thế hệ các Rock fan mới đã hình thành , Rock bước vào kỷ nguyên mới ( Classic Era)...

'The Darkest Hour Is Just Before the Dawn'
'Dedicated To the One I Love' by The Shirelles

S.C
04-06-2003, 09:31 PM
Vài nét về Metal

Khoảng hơn 10 năm trước nhạc Metal được hình thành với 2 lối chơi. Lối chơi nhanh đại diện bởi Thrash Metal và Speed Metal là sự trộn lẫn giữa Judas Priest và Motorhead. Với các nhóm tiên phong như Metallica, Slayer, Megadeth ở miền Tây và Anthrax, Nuclear Assault ở miền đông, Thrash đang phát triển mạnh mẽ . Lối chơi chậm có nguồn gốc từ Black Sabbath và đang được các nhóm candiemass, St.Vitus, Trouble...... theo đuổi.
Sau đây là loại Metal đã hình thành và đang được thịnh hành

1: Thash Metal: hầu hết các ban nhạc Mỹ dù dòng nhạc này từng chịu ảnh hưởng của Anh ( Sepultura đến từ Braxin là ngoại lệ) . Đây là thể loại duy nhất gây được sự chú ý của các hãng đĩa lớn. Đỉnh cao của thể loại nhạc này là Album : Master Of Puppets ( 1986) của Metallic, Reign In Blood của Slayer, và Megadeth với Rust In piece và gần đây là Official Lie 101 proo của Pantera.

2: Death Metal : rất phổ biến trên thế giới hình thành khi các ban nhạc Thrash Metal có giọng khàn như tiếng cưa mày. Lời ca thường đề cập đến chết chóc bệnh tật, ma quỷ. Album đầu tiên của thể loại nhạc này là: Scream Bloody Gore( 1986- Death)với ca sĩ chính Chuck Schuldiner. Nhưng chính ca sĩ Cronos của Venom và Tom Warior của Celtic Frost mới là cảm hứng đầu tiên của Death Metal. Các ban nhạc tiêu biểu là : Decide, Entomped, Morbid Angle, Canibal Corpse , Malevolent, creation Broken Hope, Obituary.

3: Grincore : Kết hợp giữa Death Metal và Punk với sự khởi sướng của Napalm Death và Carcass. Tiêu biểu cho Grincore là các Album Brutal Truth ( Kill Trend Suicide) và Extrreme Noise Terror ( Damage 381)

4: Metal Core : đặc trưng cho phần hát ngắt âm và phần giai diệu rất giới hạn. Thu hút trong thập niên 90s với Machine Head và Biohazard

5: Thrashed Indusrial : bắt nguồn từ Metalized Indusrial với Minitry và Nine Inch Nails, dòng nhạc này vừa có 2 đại diện tiêu biểu là Godflesh ( với album Love and hate in Dub ) và Fear Factory ( Remanufature)

6:Prometal : có nguồn gốc từ các ban nhạc heavy Metal cấp tiến như Iron Maiden , Đây chính là dư âm của nhóm rock đầy kĩ thuật trong thập niên 70 như Emerson, Lake And Palmer hay Rush. Diều đáng nghi nhớ nhất là cá bản anh hùng ca phần Lyric mang tình tôn giáo., thần thánh giọng ca terno mạnh mẽ của các ca sĩ trong Hellowen, Queensryne và đặc biệt Manowar là đại diện cho thời kỳ đầu. Và gần đây với sự suất sắc của Dream Theater sao đó là Gamma Ray , Blind Guardian, Anrga.

7: Doom : đây là thể loại nhạc tương đối chậm rãi ở nhạc Metal với các nhóm Paradises Lost , Candlemass. Một biến thế của Doom chịu ảnh hưởng của nhạc thập niên 60 đó là nhóm Slo-Bum với album cùng tên . Các nhóm khác tim tòi thể hiện những âm thanh mới trên cây Synthesized, thêm vào đó ảnh hưởng của phong cách Gothi trong giọng hát cũng như trang phục, vẻ ngoài của nhóm cũng giống như ban nhạc My Dying Bride với album Like Gods Ò The Sun và Avernus với Of The Fallen

8: Black Metal : Có nguồn gốc từ đầu thập niên 80 với Venom, Merciful Fate và đã hồi sinh lại đầu thập niên này với các ban nhạc nhóm Nauy. Các ban nhạc nhóm black Metal thường hóa trang kinh dị và phần nhạc là sự trộn lẫn giữa các âm thanh " vũ trụ " tổng hợp từ Keyboard và giọng hát khàn nhưng có thể đạt tới những âm thanh cực cao.
Thông thường Metal được cho là đen tối, xấu xa, xúi giục giới trẻ đến mới cái chết, ma quỷ. . Nói như vậy là quá oan cho Metal vì ngoài tiêu cực nói trên Metal cũng có đóng góp nhất định nếu không muốn nói là to lớn vào nền âm nhạc của thế giới . Nếu tên các ban nhạc trên còn lạ lẫm với các bạn thì chả sao vì ngoài Manowar , Megadeth, Iron Maiden, Metallica ....... thì phần lớn các ban nhạc Metal vẫn bị chìm trong bóng tối .
Tuy vậy dòng nhạc vĩ đại này vẫn đang âm ỉ chảy và lan toả khắp nới

S.C
04-06-2003, 09:32 PM
Lịch sử haevy metal

Heavy metal" là một trong những dòng nhạc Rock bị hiểu lầm nhất hiện nay. Người ta xem nó như là kết quả của một sự ngu dốt trơ tráo về những đề tài được diễn tả bởi một vài thành phần trong xã hội và những ban nhạc chơi Heavy Metal là những người luôn sẵn sàng gây hấn. Vì sao?
Nhìn vào những lớp vỏ bọc bên ngoài các dĩa nhạc, ta thấy toàn là những hình vẽ quái dị, những thây ma, những thân hình bị tra tấn, những con rồng dữ phun lửa, máy móc, xe mô tô quái đản , các cây đàn ghi-ta biến dạng thành những cây súng, đầu lâu ... Ngược lại với cái thế giới ma quái vừa kể trên ta nhìn thấy hình dáng của những nhạc sĩ chơi nhạc Rock: tóc dài, đôi khi quăn tít, thân hình được rèn tập thon nhã, quần áo da có đóng đầy nút sắt và các thứ trang sức khác. Trên các tấm hình, các nhạc sĩ của các ban nhạc chơi Heavy Metal luôn luôn biểu trưng cho một nhóm có tổ chức đặc thù, thường đó là những tấm hình chụp trong buổi hòa nhạc, vì sân khấu là đời sống thực của các ban nhạc Heavy Metal.
Lối chơi cực đoan khác trong dòng nhạc này là Speed Metal hay là Trash Metal mà điển hình là ban nhạc MotOrhead. Các nhạc sĩ của dòng nhạc sau này còn biểu lộ nhân dáng không chải chuốt cực kỳ quá khích hơn, giống như là chưa bao giờ biết thợ hớt tóc là ai, chơi nhạc thì tới cuối bài vẫn theo điệu lao nhanh như thác đổ và ầm ĩ chói tai.
Thế nhưng Heavy Metal là một trong những dòng nhạc Rock thành công nhất và số lượng người hâm mộ từ những năm 70, 80 càng ngày càng tăng. Các fan cho rằng đó là nhạc Rock chính hiệu và luôn trung thành với nó rất lâu.
Ai cũng biết Heavy Metal là Rock của \"người da trắng\" trong ý nghĩa muốn nhấn mạnh sự trái nghĩa với FUNK là nhạc Rock của \"người da đen\". Tuy thế, đã có những sự pha tạp xảy ra trong cái biên kỳ tưởng tượng này: có nhạc sĩ Funk da trắng và có nhạc sĩ Heavy Metal da đen, thí dụ như PRINCE (Purple Rain, 1984). Đừng nói đâu xa lạ, ngay tại nơi sản sinh ra nhạc Rock, con người chơi nhạc Rock, sống và yêu nhạc Rock cũng không tránh khỏi sự kỳ thị đã chảy trong huyết quản.
Những người nghe và yêu nhạc Rock thay vì có thái độ phản ứng dữ dội mù quáng với những lời phỉ báng Heavy Metal, thiết tưởng cũng nên tìm hiểu về chính bản thân dòng nhạc này cũng như để hiểu rõ thêm sự phát triển của Hard Rock nói chung cho tới nay.
Thật khó nói HEAVY METAL bắt đầu từ bao giờ. Theo hầu hết các niên sử của dòng nhạc metal, sự bộc phát đầu tiên đến từ ban nhạc The Kinks với bài "You really got me" và ban nhạc The Who với bài "My Generation" năm 1964. Vị trí của nhạc sĩ heavy metal đầu tiên mà ai cũng đồng ý là Alice Cooper với ban nhạc The Spiders hình thành năm 1965. Tuy nhiên, cho đến năm 1967, heavy metal vẫn chưa được diễn đạt trung thực và cái tên Alice Cooper mới được in đậm trong trí nhớ của thế giới mãi đến năm 1971 với bài "Love it to death".
Trong năm 1967, thế giới nhạc ROCK vẫn đắm chìm với The Summer Of Love , và đó là một bằng chứng của một cuộc cách mạng quan trọng. Các ban nhạc sau đây được hình thành trong những năm 1966-1970:
GOLDEN EARING (1965), CREAM, THE JIMI HENDRIX EXPERIENCE, LED ZEPPELIN, VANILLA FUDGE, IRON BUTTERFLY, STEPPENWOLF, BLUE CHEER, DEEP PURPLE, GRAND FUNK RAILROAD, FREE, URIAH HEEP, MOUNTAIN, HUMBLE PIE, BLOODROCK, MC5, BLACK WIDOW, ATOMIC ROOTSTER, CACTUS và BLACK SABBATH.
Họ đã gây cho thế giới một ấn tượng về heavy metal mà ngay ban đầu 2 ban nhạc Iron Butterfly và Steppenwolf đã làm. Thứ nhất là khi ta điểm lại các dĩa nhạc đã hình thành; thứ hai, dựa vào câu "heavy metal thunder" trong bài cổ điển nổi tiếng "BORN TO BE WILD". Thế là một lọai nhạc mới, có nguồn gốc từ ROCK & ROLL và BLUES, đã chiếm được ảnh hưởng vào thế hệ trẻ thời ấy sau khi đã mệt mỏi với những phần trình diễn chậm chạp, uể ỏai của The Summer Of Love.
Trong những ban nhạc mới ra, CREAM và THE JIMI HENDRIX EXPERIENCE là những ban nhạc đầu tiên mang đến cho dòng nhạc heavy metal lợi nhuận cao. Trong vòng 2 năm và qua 4 tập dĩa, CREAM đã trở thành ban nhạc thành công nổi bật có ảnh hưởng như Rush and Van Halen , và sau này đã sinh ra Blind Faith. Trong khi đó, THE JIMI HENDRIX EXPERIENCE là một nhóm 3 người mà chủ yếu nhạc dựa trên những thủ thuật đánh đàn guitar tài tình của Jimi Hendrix. Các tập dĩa như "Are you experienced?" và "Electric Ladyland" đả lôi cuốn hàng nghìn người hâm mộ giống như là đang lên cơn đói nhạc và ngấu nghiến một âm điệu mà vẫn mang âm hưởng nào đó của JANIS JOPLIN và THE DOORS, những thành phần vô tử của nhạc Rock trên thế giới.
Trong số nhiều ban nhạc mới ra đời trong thời gian này có Savoy Brown, Foghat và Bad Company chuyên chơi điệu "blue" cũng như UFO đã được sinh ra trong sự phát triển bùng nổ của Heavy Metal . Năm 1973 các ông vua Heavy Metal mới thực sự chiếm lĩnh thế giới âm nhạc, đó là các ban LED ZEPPELIN, DEEP PURPLE và BLACK SABBATH.
Hình tượng quỷ Sa-tăng đến từ 2 ban nhạc Anh Black Sabbath và Led Zeppelin. Tay đánh guitar của Led Zeppelin là Jimmy Page có một hình dáng tượng trưng quỷ quái nhất trong khi các lời nhạc của Sabbath chứa đựng những điều huyền bí hơn. Tuy thế, ban này không tự xưng là thuộc hạ của quỷ Sa-tăng; không giống như các ban nhạc metal sau này, thực tế là, Ozzy Osbourne, ca sĩ của ban nhạc đã có khi than phiền vì đã hoảng sợ trước những fan mặc đồ đen, trên tay là những ngọn nến...
Kể đến những lần trình diễn sống, đáng chú ý là Led Zeppelin với phần "rock till you drop" (rock cho đến gục ngã) kéo dài khoảng 2 tiếng và các buổi trình diễn vĩ đại của Alice Cooper, nổi tiếng với nét đặc biệt của con trăn quấn cổ, những màn cắt, chặt các phụ nữ mà ngay cả chính anh ta cũng tham dự!
Đó là những năm đầu ít ỏi của classic metal được xem như là kỷ nguyên hay nhất của các dòng nhạc. Không có gì để nghi ngờ đấy là một đoạn đường đáng nhớ nhất của lịch sử âm nhạc. Heavy metal trở lại khi Led Zeppelin, ban nhạc nổi tiếng nhất về loại nhạc này, đã sáng tác những bài cổ điển như "Black Dog"; nhưng cũng khá sáng chói trong việc thử nghiệm lọai nhạc như REGGAE và FOLK. Thực tế thì bài sau đây cũng đóng một vai trò thành công cho heavy metal: "Stairway to heaven" do phần trình diễn chung của Page và ca sĩ Robert Plant trình bày tuyệt hảo.
Tuy nhiên, phải nói là cho đến năm 1970, ban nhạc BLACK SABBATH mới gọi là đã tấn phong cho heavy metal một "linh hồn" thực sự. Ảm đạm, ầm ĩ với những lời như tiên tri, các tập dĩa "Black Sabbath", "Paranoid" và "Master of Reality" đã bày tỏ một loại nhạc mang đầy chất tinh quái qua ngón đàn guitar của Tonny Iommi và sự trình diễn của Ozzy Osbourne, Bill Ward và Geezer Butler với các bài cổ điển như "N.I.B.", "Paranoid" và "Children of the Grave". Các ban nhạc như Corrosion of Conformity, Metallica và Nirvana đều có ảnh hưởng của loại nhạc thánh ca metal. Trong khi đó, Deep Purple, sau một thời gian miệt mài với loại progressive rock cùng với Rod Evans và Nick Simper, đã phát triển một thanh nhạc rock vững chắc trên nền tảng của Deep Purple In Rock và đã trở thành một sứ giả thực sự trong việc cải cách âm nhạc. Thực sự là với các ngón đàn của Ritchie Blackmore hòa nhịp với tiếng đàn synthesizer của Jon Lord và tiếng gào thét chói tai của Ian Gillain đã là phần quyết định chủ yếu cho việc phát triển heavy metal ngày nay.
Trong những năm giữa thập niên 60, có 6 ban nhạc mới đã xuất hiện dưới ánh đèn mầu: The Blue Oyster Cult, Thin Lizzy, Judas Priest, Queen, Aerosmith và Kiss. Có thể nói rằng ban nhạc Judas Priest là tiền phong trong việc truyền bá sáng kiến đưa 2 tay đàn guitar vào ban nhạc heavy metal; Aerosmith thì mang lại cho thính giả điệu blues buồn, tình dục và ma túy; Thin Lizzy chơi nhạc dưới ánh sáng tân kỳ lấp lóe với điệu nhạc; Queen giới thiệu cho ta một trình độ có thể cho là cao cấp trong việc làm tái sinh những giai điệu, tiết tấu hùng hồn với tính chất sắc bén của progressive rock. Ban nhạc Kiss cách mạng hóa những buổi trình diễn rùng rợn gợi lại trong ký ức khán giả về Alice Cooper. Còn ban nhạc Blue Oyster Cult thì sao? Họ đã biến mất trong sự lãng quên sau một lọat các tập đĩa phát hành trong những năm 80. Nhưng trong những năm 70 êm đềm trôi qua của Blue Oyster Cult, ban nhạc này đã trở thành một phần quan trọng của vũ đài HARD ROCK đã phối hợp thật tuyệt vời với các giai điệu nhạc của thập niên 60 qua các tiếng đàn guitar.
Trong khi một số các ban nhạc chuyên lo củng cố danh tiếng của mình là những tài danh vĩ đại của dòng nhạc rock, các ban nhạc khác đã bắt đầu biến chế loại nhạc mới progressive rock qua một hướng nặng nề hơn. Pink Floyd và Genesis hầu như vẫn đứng ngòai vương quốc heavy metal, trong khi Jethro Tull, Yes và King Crimson đã làm quen với heavy metal nhiều hơn qua những bài như "Aqualung", "Heart of the Sunrise" hoặc "21st Century Schizoid Man" một cách tương ứng. Được tiêu biểu bởi các kết cấu nhạc phức tạp, phần sọan nhạc kỳ quái và cách sử dụng nhạc cụ điện tử cao cấp, lọai nhạc progressive metal chắc có lẽ không bao giờ trở thành hiện thực nếu không có ban nhạc RUSH ra đời. Với album đầu tiên của Rush, tuy lúc ấy chưa được gọi là progressive, nhưng trong thời gian của Fly By Night và thành công của tay trống Neil Peart, ban nhạc đã thay đổi vị trí và tỏ niềm khát vọng hơn qua lời nhạc và giai điệu, đưa chất progressive cho đến biên giới xa nhất qua các tập dĩa như "A Farewell to Kings" và "Hemispheres". Nhiều ban nhạc progressive khác như Emerson, Lake và Palmer, Focus, Asia, IQ và Marillion chỉ làm quen sơ sài với metal trong suốt thời gian hiện diện của họ.
Thật là đáng tiếc, heavy metal đã bị đình trệ hoàn toàn trong cuối thập niên 70. Aerosmith, Thin Lizzy và Black Sabbath bì chìm đắm trong ngục tù của ma túy, Kiss đánh mất vẻ đẹp của âm nhạc qua việc thương nghiệp hóa quá độ, Deeep Purple bị phai nhòa vì cứ thay đổi nhân sự, Led Zeppelin chấm dứt sự nghiệp qua cái chết của tay trống John Bonham; chỉ còn Judas Priest và Queen là đứng vững trong thời gian này. Không chỉ là những ban nhạc lớn biến mất dần dần mà vài ban nhạc mới cũng chỉ lóe lên một thời gian ngắn rồi tắt; người ta nói metal đang nằm ngắc ngỏai trên giường bịnh. Một vài ban nhạc nhỏ nhoi vẫn phát đạt trong kỳ đổ nát này, trong đó phải kể đến AC/DC và Rush với tay đàn Angus Young nghiêng ngả đảo điên trên sân khấu, Bon Scott với giọng rít thất thanh như tiếng động cơ máy bay.
--------------------
Và thế là lọai nhạc metal mới là PUNKROCK (punk = khốn khổ, nghèo nàn) ra đời để cứu nguy cho cái phông rock trên sân khấu không bị hạ xuống vĩnh viễn. Gọi tắt là Punk, đó là lọai nhạc Rock ầm ĩ, hỗn độn, lời ca cộc cằn khởi xướng từ giới thanh niên hạng trung bình trong xã hội Anh. Sau này, người ta hiểu Punk là một phong cách âm nhạc diễn tả sự thất bại về kinh tế và sự ghẻ lạnh trong tình người tại Anh quốc. Cao điểm của phong trào Punkrock Anh là năm 1977. Các bài hát với hòa âm đơn giản thường ngắn, cuồng nhiệt, lời ca mang đầy tính chỉ trích, hòai nghi, yếm thế. Ban nhạc Punk nổi tiếng nhất là The Troggs, Sex Pistols của Luân Đôn với bài "Anarchy in the UK" năm 1976, và ban The Clash. Ngòai ra, ta còn tìm thấy các ban như Ramones, Damned, Siouxsie and the Banshees, ít biết đến hơn nữa là Pagans, the Dead Boys, the UK Subs, Crass... tất cả đều cố gắng đột chiếm thế giới. Sự đóng góp lớn nhất của Punk vào sân khấu của Punk/Heavy metal có thể là lối nhảy "slamdancing" phổ biến, sự phục hưng lọai nhạc Rock mạnh mẽ và sự tuyên truyền rộng rãi chống lại những hành vi sai trái của xã hội (vang lại các ca khúc của Black Sabbath chứa đựng trong những bài như "Children of the Grave" –dĩa Master of Reality, 71- và "Luke's Wall/War Pigs" -dĩa Paranoid, 70-).
Nên kể về 3 ban nhạc Punk quan trọng nhất là Iggy and the Stooges, the Ramones và Sex Pistols. Các thành viên trong ban nhạc với Iggy Pop không có gì thiếu sót trong phần làm kinh ngạc khán thính giả vì sự cuồng nhiệt quá độ đến nỗi chính họ cũng chỉ chịu đựng nhiều lắm là 15 phút. Ban nhạc của New York là Ramones có những bài hát khinh suất, táo bạo không ngờ và đã đặt nền móng các ban nhạc sau này như The Red Hot Chili Peppers và Nirvana lớn mạnh. Cuối cùng là ban The Sex Pistols đã sáng tác nhiều bài nổi tiếng với những lời phản động như trong bài "God Save The Quen" hoặc những bài "hooky songs" như bài "Sub-Mission". Tuy nhiên, qua lần trình diễn tại Mỹ năm 1978, ban nhạc này đã tự diệt thanh danh khi tay đánh bass Sid Vicious bị tố cáo đã giết người tình là cô Nancy Spunge và sau đó đã tự tử trong một cơn say ma túy. Sự kiện này đã đưa Vicious vào các "liệt sĩ" đáng hổ thẹn của Punk, Sex Pistols tan rã, Punk Rock bắt đầu suy thóai và chỉ còn họat động phần lớn lặng lẽ cho đến thập niên 90. Riêng ca sĩ Johnny Rotten của ban Sex Pistols đã lập ra ban nhạc khác tên là Public Image LTD nhưng chẵng còn dính dáng gì đến Punk nữa.
Trong khi Punk quyến rũ được số lượng lớn thanh niên, một ban nhạc cuồng nhiệt khác cũng đã bắt đầu tác động vào giới trẻ, đó là MOTORHEAD. Ban này được biểu thị cho sự bắt đầu của những thể lọai thrash/speed/power metal và death metal sau này. Dĩa phát hành đầu tiên của Motorhead năm 1976 là On Parole biểu lộ rõ tiềm năng không hề vay mượn của riêng mình trong những tập đĩa phát hành những năm cuối của thập niên 70 và đầu 80 như là Overkill, Bomber, Ace of Spades và No Sleep 'Til Hammersmith đã cống hiến nhiều bài thực sự là đòn bẫy cho metal song. Hơn nữa, Motorhead không những đã thu hút nhóm nghe nhạc metal một cách ngạc nhiên lý thú mà còn hấp dẫn cả cácnói về hard rock thì ko thể ko nhắc đến nước MỸ!!! bán đảo Scandinavi nổi tiếng về death và black thì Mỹ lại nổi tiếng về hard rock!!! nhưng có mấy ai biết rằng thời xa xưa ấy thì Mỹ chỉ là cái bóng của Ăng_lê!!! trong cái nền đen tối của nước Mỹ hồi những năm 60,70 thì một band nhạc đã giúp Mỹ lấy lại một phần danh dự!!! Nó còn là ông tổ của những buổi biễn diễn trong sân vận động với hàng trăm ngàn khán giả của nhạc rock sau này!!! Band tôi muốn nói đến là Grand Funk Railroad....đây là band 100% gốc Mỹ gồm ba thành viên đến từ MICHIGAN , hãy nghe tạp chí guitar world định nghĩa về GFR:"band là con tàu chuyển giao rock của thập kỉ 60 bước vào thời kì trưởng thành đầu thập niên 70".Họ chơi theo phong cách hard rock nhưng pha lẫn R&B, "chúng tôi là ban nhạc của đám đông"_vocalist/guitarist MARK FARNER của nhóm phát biêu..và vào tháng 7-69 band được 125.000 khán giả trẻ chào đón ở liên hoan Pop tại Atlanta và 120.000 khán giả tại liên hoan Pop quốc tế tại Dallas...mở ra thời đại của những buổi biểu diễn khổng lồ tại các sân vận động!!album tiêu biểu nhất của nhóm là "ontime" phát hành năm 69!! trong album có các ca khúc bất hủ như :"Time machine","Heartbreaker","tnuc",và "Limousine driver"....liên tục được phát đi phát lại trên sóng phát thanh Hoa Kì!!! có một chi tiết đáng lưu ý là album này chỉ thu âm trong vòng có 5 ngày giữa chu kì lưu biễn khắp nước Mỹ của Band!!!!!
fan punk bốc lửa.
Trong khi Punk đang làm rung chuyển nền tảng của rock & roll thì Heavy Metal trở lại với Judas Priest, Scorpions, Accept và phong trào New Wave of British Heavy Metal phát xuất từ Anh quốc với các ban Diamond Head, Def Leppard, Holocaut, Iron Maiden, Saxon, Samson, Tygers of Pan Tang, Venom, Raven và Sweet Savage, trong đó chỉ có Iron Maiden, Def Leppard và Saxon là nổi tiếng nhất. Judas Priest muốn đại chúng hóa các sản phẩm đồ da, giầy ống, đinh đóng làm biểu tượng cho nhạc metal; Scorpions thì biểu dương tài năng qua một loạt các dĩa phát hành thành công rực rỡ như là Virgin Killer (76), Lovedrive (79 và Blackout (82) thể hiện cả hai thể điệu ballad và heavy. Ban Accept đã thể hiện một điệu nhạc đúng chất heavy/hard của Rock cũng như có thể cho là đã bắt đầu giới thiệu thể nhạc proto-power metal qua các tập dĩa như Breaker và Restless and Wild năm 81-83.
Trong khi đó, Iron Maiden mang lại hình ảnh thần kỳ của heavy metal qua các đọan riff ngắn và cực kỳ chói tai trong các album như Killers (81), Piece of Mind (83) và Powerslave (84). Ban nhạc này vẫn giữ vững thế đứng trong làng nhạc hard rock nhiều năm cho tới khi Metallica xuất hiện. Trong khi Iron Maiden trở lại chơi thêm tiếng bass ầm ầm như sấm (cộng với các đoạn riff ngắn là một sự phối hợp thường gọi là classic metal, ban nhạc Venom xuất hiện với thể loại mới là thrash metal trong các tập dĩa như Black Metal (82) và Welcome to Hell (85) mà cũng có thể nói rằng đó là nền tảng của thể nhạc death và black metal sau này. Venom trở thành một ban nhạc mạnh trong thời kỳ này, cùng với MotOrhead, Stained Glass và Riot với loại nhạc rất dễ phân biệt và mạnh mẽ, đã truyền cảm hứng cho các ban nhạc mới Metallica, Exodus, Slayer và Mantas (sau này trở thành Death) để đạt tới một lối chơi riêng qua tiết tấu nhanh và một phong cách trình diễn hung hãn.
Vai trò của New Wave of British Heavy Metal tuy hiện hữu không bao lâu cũng đã được đánh giá cao hơn là việc chỉ kích thích được sự phục hưng loại nhạc heavy metal tại Anh. Nó đã mang lại sức sống cho tuổi trẻ sẵn mang đầy tính hồ hởi, một sự sáng tạo cởi mở không ngừng, tạo ra một sức truyền cảm mãnh liệt, một con đường cho heavy metal tiến hóa suốt thập niên 80. Với các ban nhạc cũng tòan chơi lối riff metal như Jaguar, Witchfynde, Diamond Head, Angel Witch, Wichfinder General xuất hiện trong thời kỳ này đã báo hiệu một vị trí vững chắc của heavy metal và đảm bảo sự tiến triển không ngừng của nó trong thế giới âm nhạc

S.C
04-06-2003, 09:35 PM
Những trái tim metal đích thực

Chặng đường 25 năm
Khó có thể có band nào "lận đận" như Accept. Ngay đến ngày thành lập tôi cũng khó biết chính xác được, tôi không biết nên lấy ngày đó là ngày họ bắt đầu đến với nhau, hay là từ khi bước sang con đường chuyên nghiệp

Mọi chuyện bắt đầu khi Udo Dirkschneider và các bạn bắt đầu chơi nghiệp dư ở quê nhà - thị trấn nhỏ Solingen nước Đức. Lúc này, họ chơi một thứ nhạc "chưa được thuần Metal" và có thể nói chưa có được độ ổn định cần thiết. Mặc dù sớm có khát vọng chơi chuyên nghiệp,nhưng thành viên đến , rồi đi vì muốn sáng tác, khẳng định cá tính của mình. Lúc này Accept vẫn còn là một band nhạc hoàn toàn vô danh.

Cho tới năm 1976, họ có cơ hội khẳng định tài năng của mình: được chơi tại một trong những Festival Rock đầu tiên tỏ chức tại Đức. hàng nghìn khán giả đã thực sự sửng sốt trưóc một hình thái nhạc mới, lúc đó họ còn chưa kịp đặt tên: Heavy Metal. Các thành viên lúc đó là:
Udo Dirkschneider (vocal) ., Wolf Hoffmann (guitar )., Peter Baltes ( bass), Gerhard Wahl(guitar). (vào năm 1978 được thay thế bởi Jörg Fischer), và Frank Friedrich (drums)
Chỉ vài tháng sau, họ đã có mặt tại Studio để thu âm Album đầu tiên của nhóm: ACCEPT
Nhưng mọi chuyện không suôn sẻ cho lắm. NGay sau khi thu Album đầu tiên, tay trống Frank Friedrich đã không còn khát vọng chơi chuyên nghiệp, và mọi chuyện suýt đổ vỡ chỉ đến khi dùi trống có chủ mới: STEFAN KAUFMANN.

Đến năm 1980, Accept cho ra Album thứ 2: I'm a rebel. Điều được báo chí đăng tải hồi đó nhiều nhất là chất giọng của Udo: nó mạnh mẽ, quyền lực và man dại như một "cuộc tấn công vào lỗ tai người nghe". Thứ nữa là tiếng guitar lắt léo của Wolf Hoffmann.
Đến năm 1981, họ thu Album thứ 3: Breaker. Từ đây Accept ký được hợp đồng lớn với hãng đĩa Gaby Hauke - một hãng rất có tiếng tăm của Đức. Sân khấu đã sẵn sàng.
Năm 1982 - sự mệt mỏi bắt đầu xuất hiện - Jörg Fischer ra đi.i Album "'RESTLESS & WILD" ra đời với bản "FAST AS A SHARK" không thể khống nhắc tới. Cặp trống Bass đôi chiến 1 cách quyết liệt như sấm rền (đinh tai nhức óc) với tần số cao chưa từng thấy đã chính thức kết nạp band vào hàng ngũ của Speed Metal.

Accept như say trong niềm đam mê bất tận, và những sáng tác đưọc nhanh chóng cho ra lò như "nước vỡ bờ". Lần lượt các Album "Balls to the Wall" , rồi 'METAL HEART. Sau đó band có sự trở lại của Jörg Fischer. Họ lưu diến tại Mỹ, rồi Châu Âu, Châu Á, tham gia vào Rock show huyền thoại MONSTERS OF ROCK, bắt tay với DIETER DIERKS - nhà sản xuất đĩa hát đã từng cộng tác với Scorpions. Accept bắt đầu làm việc với 200% sức lực.

Nhưng sự rạn nứt cố hữu lại xuất hiện từ chính những con người ấy. Peter Baltes, Wolf Hoffmann và Gaby Hauke chợt thấy "yêu mến " nước Mỹ trong khi những người còn lại, như Udo thì không.
Tiếp đến là tay trống STEFAN KAUFMANN bị chấn thương lưng nghiêm trọng.

Cố gắng , nỗ lực, họ đã vượt qua những khó khăn đó - tưởng chừng không thể nào cáng đáng nổi. Năm 1990, Album 'STAYING A LIFE' ra đời chấm dút lời đồn đại về sự tan rã. Một làn sóng hâm mộ Accept lại cuốn trào trên toàn thế giới

Udo, nhận ra cần phải cải cách lại lối chơi và cách phối bè. Band lúc này chỉ còn 4 thành viên và họ quyết định chơi chỉ với một guitar duy nhất - Wolf Hoffmann đảm nhiệm hết các phần riêng bè guitar. NHững sáng tác tiếp theo của họ là 'OBJECTION OVERRULED' vào năm 1993 và năm 1994 với " Death Row" - Cao trào của Accept với tư cách Heavy Metal. Album tiếp theo "'PREDATOR" Accept không thể vượt qua được cái bóng của mình.

Tour diễn cuối cùng ở Nam và Bắc Mỹ, rồi châu Á và vượt sang châu Âu đã viết nốt chương cuối trong lịch sử ban nhạc. Đó là lúc họ phải ra đi. Accept tan rã, nhưng hình ảnh của Udo và Wolf vẫn còn trong trái tim hàng triệu người hâm mộ. Ở khắp nơi, những site không chính thức của Accept do các fan hâm mộ được liên tục thiết lập và cập nhật . Trong đó có Thuỵ Điển, NGa và cả Thổ Nhĩ Kỳ. Một điều đặc biệt là, Accept ko có Official Site

S.C
04-06-2003, 09:36 PM
Những trái tim metal đích thực


phan loai metal
Việc phân biệt các thể loại nói chung là không phải đơn giản. Có thể có một band vừa được xếp vào thể loại này, vừa thể loạik khác hay pha trộn...Vì thế tôi chỉ nói các đặc trưng mà tôi đã cảm nhận hay tiếp thu được. Bởi hình như đây là một "mostwanted topic" nên ai biết thì cùng luận đàm cho mọi người cùng mở mang cái gáo dừa phát

Heavy Metal:
Được biết đến như là thể loại Metal "nguyên bản" và "cổ xưa" nhất. Heavy Metal ra đời từ rất sớm, nó cho người ta một khái niệm về "metal" và "những gì thuộc về Metal". Có lẽ band nhạc Heavy Metal đầu tiên là Black Sabbath. BS đã dấy lên phong trào Metal phát triển ở nước Anh để rồi kéo theo một loạt các band khác như Judas Priest, Iron Maiden, Saxon, Motorhead .. và những band giờ đã rơi vào quên lãng. Phong trào Heavy ở Anh quốc bùng cháy rồi dần dần mờ nhạt dần vào giữa những năm 80 với sự xuất hiện của Thrash Metal (đây tôi đang nói chung về Heavy ở Anh , tất nhiên nói là mờ nhưng nó vẫn âm thầm phát triển). Những band Heavy còn tồn tại đến bây giờ dễ thấy nhất là Metallica, Iron Maiden (hai band này vẫn hầu như chơi Classic - Metal theo kiểu truyền thống). Manowar thì đặc biệt, chơi một thứ Heavy Metal rất mới, rất Hoa Kỳ - tức là có sự đột phá đáng kể so với Heavy Metal truyên thống
Các đại diện chủ chốt: Black Sabbath, Europe, Iron Maiden, Judas Priest, Accept, Megadeth, Skid Row, Manowar

Thrash Metal:
Cực kỳ thịnh hành vào những năm 80 với 4 "đại gia" là Anthrax, Megadeth, Slayer và Metallica (Megadeth và Metallica thuộc cả dòng Heavy và dòng Thrash, nghe "Kill em all" sẽ thấy chất Thrash của Metal). Đặc trưng của Thrash là chơi hơi nhanh, chất nhạc và vocal mang tính "hiếu chiến". thường là gào thét và nét giai điệu không rõ ràng. Nhưng việc Thrash ra đời lại có thể nói là khai sinh cho hai dòng nhạc khác: Death Metal và Power Metal
Các đại diện chủ chốt: Anthrax, Slayer, Megadeth và Pantera

Death Metal:
Là thể loại nhạc có thể nói là tàn bạo nhất, đậm tính chết chóc từ giai điệu cho đến ca từ. Cực kỳ hằn học. Thường sử dụng distortion mạnh mẽ với tần suất lên cao và độ ồn lớn, tạo nên những âm thanh rất khó nghe. Bass đánh ít nghĩ xen kẽ với drums vô cùng mạnh, âm lượng của bass và drums thường được đẩy cao so với các nhạc cụ khác. Nhạc ít khi tỏ ra "trong sáng" ngay cả trong các đoạn lead.
Các đại diện chủ chốt: Cannibal Corpse, Death, Opeth

Power Metal:
Dòng nhạc "sinh sau đẻ muộn", ra đời vào cuối những năm 80, là hậu duệ của Heavy Metal. Đặc điểm của Power Metal là chơi với tempo nhanh hơn, mạnh hơn Heavy Metal, nhưng lại không chất chứa nhiều sự giận dữ, hằn học và hiếu chiến. Nhạc của Power nghe thường mang lại cảm giác vui vẻ, thoải mái. Các band Power thường chơi kèm keyboard với lead, nhưng không quá chú trọng vào Accord. Lyric cũng không quá thiên về tôn giáo, sự phẫn nộ mà chỉ nhẹ nhàng, nhưng ko hề sến. Cá nhân tôi thấy Lyrics của Power rất hay
Các đại diện chủ chốt: Helloween, Stratovarius, Blind Guardia và Gamma Ray

Progressive Metal:
Có đặc trưng cơ bản là các sáng tác thường dài, trúc trắc với cấu trúc phức tạp. Không như việc sáng tác có truyền thống của các dòng nhạc khác - bao gồm các đoạn 1 - 2 có chung tiết tấu (chỉ khác bằng việc đổi Lyrics), đến đoạn chorus một nhạc điệu khác, nhạc của Progressive rất đa dạng (có thể đó là dấu ấn của sự sáng tạo so với các dòng khác chăng ?) có thể gồm đoạn 1, 2 và thậm chí cả bridge rồi lead - sau đó lại quay lại đoạn 1 , thậm chí cả 2 - điều rất ít gặp. Hay giai điệu có thể khống lặp lại mà đi từ đầu tới cuối đã có sự cải biến lớn. Band nhạc đưa Progressive lên đỉnh cao là DreamTheater - đặt dấu ấn của mình vào đầu những năm 90.
Các đại diện chủ chốt: DreamTheater, Ivory Tower, Symphony X

Symphonic Metal:
Metal giao hưởng rất khó gọi là một thể loại Metal riêng biệt, bởi sự pha trộn của nó với các dòng nhạc khác. Symphonic rthường được trộn với Gothic hay Power Metal. Metal giao hưởng có thể chơi tầm "vĩ mô" đại hoành tráng như chơi với dàn nhạc giao hưởng cổ điền hay bán cổ điển hoặc đơn giản chỉ là lấy keyboard thay cho dàn nhạc. Ví dụ dễ thấy nhất là Rhapsody, một band Symphonic của Italia thường hay bị nhầm lẫn sang dòng Power metal. Chính bởi sự kết hợp khéo léo các chất liệu Gothic, hay Power thậm chí cả Black hay Progessive ngay trong dòng nhạc này
Đại diện chủ chốt: Symphony X (cần nói thêm về Symphony X: lại một điển hình nữa cho minh chứng Symphonic là sự kết hợp đậm đà, hài hoà của các dòng Power, Gothic và cả Progressive) và Rhapsody. Chất Gothic thì nhẹ nhàng, nhạc mềm mại mà lại sống

S.C
04-06-2003, 09:36 PM
ac ! mai post típ ! ngủ đã

S.C
04-06-2003, 10:11 PM
Lịch sử Hard Rock và Heavy Metal

[glow=yellow:c6b765626c][shadow=red:c6b765626c]Part I: [/shadow:c6b765626c][/glow:c6b765626c]
Có ai biết Heavy Metal (HM) thực sự bắt đầu từ bao giờ không ? Kể ra thì cũng khó nói . Theo hầu hết các biên niên sử về HM , sự xuất hiện của Kinks với “ You Really Got Me “ và The Who với “ My Generation “ vào khong năm 1964 đánh dấu bước đi đầu tiên của HM . Nếu nói đến nghệ sỹ HM đầu tiên thì phi kể tới Alice Cooper , band được thành lập năm 1965 với cái tên Spiders . Tuy vậy , HM chỉ thực sự gây tiếng vang vào năm 1967 và cái tên Alice Cooper đã in đậm vào tâm trí của tất cả Rock fan vào năm 1971 với tác phẩm kinh điển Love It To Death .
Trong những năm 1967, khi Rock fan còn đang cuốn theo Summer of Love , thì một đợt sóng mới đã bắt đầu chuẩn bị trào dâng với Golden Earring (1965), Cream, the Jimi Hendrix Experience, Led Zeppelin, Vanilla Fudge, Iron Butterfly, Steppenwolf, Blue Cheer, Deep Purple, Grand Funk Railroad, Free, Uriah Heep, Mountain, Humble Pie, Bloodrock, the MC5, Black Widow, Atomic Rooster, Cactus, và Black Sabbath đang sục sôi vào năm 1966-1970 và bùng nổ trên thế giới với một cái tên mà Steppenwolf đã gọi trong một bài hát “ heavy metal thunder “ ( lần đầu tiên thuật ngữ HM đã được sử dụng dùng để mô tả tiếng động cơ của xe môtô ) . Một thể loại âm nhạc mới , được thừa kế một phần từ Rock ‘n Roll và Blues đã xuất hiện .
Cream và Jimi Hendrix Experience là những band đầu tiên đã đưa HM lên một vị trí thưng mại vững vàng khiến các bầu sô phải chú ý tới . Huyền thoại sống Eric Clapton cùng với band của mình đã tung ra các tác phẩm kinh điển như “Sunshine Of Your Love" và "White Room”. Với 4 album chỉ trong hai năm , Cream đã trở nên một hiện tượng và tiếp sức cho những người đi sau như Rush , Van Halen và huyền thoại Blind Faith . Jimi Hendrix Experience cũng là một band tam-tấu thời đó phụ thuộc chủ yếu vào cây guitar Jimi Hendrix . Những album như Are you Experienced? hay Electric Ladyland đã làm thỏa mãn phần nào hàng nghìn fan đang cồn cào như điên vì thứ nhạc này . Các album này cũng đã ảnh hưởng phần nào tới Janis Joplin và nhóm The Door sau này .
Một vài band lúc đó Budgie, UFO cũng đã được sinh ra trong sự bùng nổ của HM , trong khi đó một số band như Status Quo cố gắng heavy hoá âm nhạc của họ hơn ; nhưng cho đến năm 1973 thì không còn ai phản đối khi Led Zeppelin , Deep Purple và Black Sabbath thống trị thế giới HM với những kỹ thuật và cảm xúc chưa từng xuất hiện và đã ăn sâu vào âm nhạc cho tới tận ngày nay . Kỷ nguyên Satanic đã xuất hiện cùng với những buổi biểu diễn cuồng loạn , chìm đắm hết mình

S.C
04-06-2003, 10:12 PM
Part II :
Kỷ nguyên Satanic đã lên tới đỉnh điểm với ban nhạc Anh : Black Sabbath và Led Zepplin
Cây guitar của Led Zepplin , Jimmy Page , ( đã từng chơi trong band The Yardbirds cùng với Eric Clapton , Jeff Beck ) có một sức cuốn mê hồn bí ẩn , trong khi đó lời hát của Sabbath lại cuốn hút người nghe với sự phong phú ngữ nghĩa tiềm ẩn . Tuy nhiên , Sabs lại không phải là band đặt dấu ấn cho Satanic giống như một số band về sau vì Ozzy , hát chính của band lại kinh hãi với các fans của mình khi họ mặc áo choàng đen và mang theo những cây nến .
Những năm đầu của HM ( có thể gọi là classic metal vào lúc đó bởi những bước đi tiên phong của mình ) được kể tới nhắc đến thay cho tất cả loại nhạc đang xuất hiện cùng thời gian đó . Có thể không nói ngoa rằng đó là một khoảnh khắc đáng nhớ của lịch sử âm nhạc . Led Zeppelin , một HM band phổ biến nhất vào lúc đó , đã tạo nên những bài kinh điển như “Black Dog “ và “ Kashmir “ lại cũng có những điểm sáng với những loại nhạc như Reggea và Folk mà tiêu biểu có thể kể đến là “Stairway to Heaven “ .
Mặc dù vậy , phải tới năm 1970 , khi mà Sabs mở đầu một cảm giác HM thật sự . U ám , tối tăm , đầy những sự tiên đoán ảm đạm xuất hiện trong những album như like Black Sabbath, Paranoid, và Master of Reality với guitar chính Tony cùng Ozzy , Bill Ward , Geezer Butler trong một số tác phẩm kinh điển như “N.I.B.," "Paranoid," và "Children of the Grave." . Một số band về sau Corrosion of Conformity, Metallica, và Nirvana đã chịu ảnh hưởng rất nhiều từ các dòng nhạc đi trước . Trong lúc ấy , Deep Purple sau khi vượt qua được sự hạn chế của Progessive Rock với ca sỹ chính Rod Evans và bassist Nick Simper , đã tạo nên Deep Purple In Rock . Tiếng guitar của Ritchie Blackmore , những hợp âm của Jon Lord cùng với tiếng thét xé lòng của Ian Gillan đã tạo nền móng cho sự phát triển của HM ngày nay .

S.C
04-06-2003, 10:13 PM
Part III
Trong những năm giữa thập kỷ 70 , 6 band đã xuất hiện trên bầu trời nhạc Rock : Blue Oyster Cult, Thin Lizzy, Judas Priest, Queen, Aerosmith, và Kiss . Judas Priest ngoài một cái tên ấn tượng cũng đã để lại cho nhạc Rock một khái niệm mới khi sử dụng hai cây guitar trong một band HM , Aerosmith đem lại cho người nghe cảm giác về những nỗi buồn sâu thẳm , tình dục và ma túy ; Thin Lizzy với tay bass nổi tiếng Phil Lynott tạo nên bước đột phá trong khoảnh khắc với thẩm mỹ âm nhạc của mình ; Queen đã đem lại cho người nghe có lẽ là đỉnh cao của sự pha trộn giữa âm nhạc và sự đổi mới trong những giai điệu oai nghiêm nhưng không kém phần hài hòa của mình ; cuối cùng là Kiss với bước đột phá trong nghệ thuật trình diễn rùng rợn của mình khiến các fan không khỏi nhớ tới Alice Cooper . Còn Blue Oyster Cult thì tan biến vào không khí sau khi tung ra một loạt các album thành công nhưng cũng đủ để đặt dấu ấn trong lịch sử hard-rock với những giai điệu của năm 1960 cùng tiếng guitar gây xúc động mạnh .
Khi một số các band HM củng cố sự xuất hiện của mình như những người khổng lồ thì trong các năm đó một số bands khác trong dòng progessive-rock cũng đã gây chú ý nhiều hơn với chiều hướng heavy hóa âm nhạc của mình . Những band như Pink Floyd hay Genesis đã khiến ngời nghe đôi lúc từ bỏ vương quốc HM để nghe họ , trong khi đó một số khác như Jethro Tull , Yes , King Crimson tung ra các bài top như “Aqualung," "Heart of the Sunrise," và "21st Century Schizoid Man" .Những bài hát có cấu trúc tính cách , sựu trình bày hi kỳ cục , sử dụng các nhạc cụ với một kỹ thuật cao khó tưởng tượng trong progessive metal chỉ đến khi Rush xuất hiện . Trong album đầu tay của mình , Rush , một band chưa có tiếng nói trong dòng nhạc progressive nhưng với Fly by Night cùng sự thu nhập tay trống Neil Peart đã thay đổi được diện mạo của mình và trở nên đầy tham vọng với chất trữ tình của mình đã đi thẳng vào dòng progessive metal với album như A Farewell to Kings và Hemispheres kéo theo sự ảnh hưởng đối với nhiều ban nhạc về sau như Emerson, Lake, and Palmer, Focus, Asia, và Marillion .
Không may , HM đã đình trệ lại rất nhiều vào những năm cuối của thập kỷ 70 . Aerosmith, Thin Lizzy, và Black Sabbath dường như đã bị chôn chặt trong hầm mộ do họ tự đào ra với ma túy , Kiss thì dần trở nên mất tính quyến rũ của mình do những bước đột phá trong ... kinh tế . Deep Purple nhạt nhòa dần do sự thay đổi nhân sự còn Led Zepplin đã kết thúc với cái chết của tay trống John Bonham ; chỉ còn lại Judas Priest và Queen . Không chỉ những quái vật khổng lồ mà cả những chú lùn chưa lớn cũng bị che phủ bởi bức tranh ảm đạm của HM . CHỉ còn một vài band lóe sáng trong khoảnh khắc như AC / DC hay Rush ; đã thức tỉnh thế giới chỉ với ba hợp âm , cây guitar Angus Young như mất trí trên sàn diễn cùng với tiếng thét từ địa ngục của Bon Scott có lẽ là hình ảnh cuối cùng của họ .

S.C
04-06-2003, 10:14 PM
Part IV
Một dòng nhạc anh em của HM đã xuất hiện và vực lại rock fan , đó là Punk . Một số các band mới bắt đầu chỉ hát về những suy nghĩ , sự phản kháng của họ về chiến tranh , chính phủ , về cuộc sống thường ngày của họ và đã chói sáng với chất giọng khàn đặc những bài hát ba hợp âm chính thấm đẫm sự phản kháng . Có thể nhắc tới những tên tuổi như Iggy and the Stooges , MC 5 , đặc biệt là New York Dolls suốt từ những năm 60 (?) và đầu những năm 70 : Sex Pistols, Ramones, Clash, Damned, Siouxsie và Banshees cùng một số band gần giống Pagans, Dead Boys, UK Subs, Misfits, Crass, the Exploited, Amebix, Plasmatics đã tạo nên một sóng mới trên toàn thế giới . Punk đặc biệt góp phần vào thể loại Punk / Metal với sự phục hưng của dòng nhạc đầy sức sống cùng với phong trào phản đối mạnh mẽ các hành động sai trái của chính phủ ( có lẽ ai cũng biết tới “War Pigs “ và “Children of the Grave” của Black Sabbath) .
Những nhân vật có nhiều ảnh hưởng nhất trong dòng nhạc này là Iggy and the Stooges, Ramones, Sex Pistols . Đầu tiên phi kể tới là band của Iggy Pop với giọng ca cổ điển cùng tiếng thét trên nền tam tấu của Iggy .

S.C
04-06-2003, 10:15 PM
Part V :
Tiếp theo sau Iggy , là Ramones , một band đến từ NewYork với những lời ca liều lĩnh đáng ngạc nhiên vào thời điểm đó , band này đã ảnh hưởng lớn đến sự phát triển sau này của Red Hot Chili Peppers và Nirvana . Cuối cùng không thể nhắc tới band punk rock vĩ đại nhất : Sex Pistols . Band này đã đã ra những tác phẩm punk rock kinh điển về mọi chủ đề từ sự phản kháng chính trị ( “God save the Queen”) cho đến những bài như “Sub-Mission” . Mặc dù vậy , band này đã tự hủy hoại mình trong suốt chuyến lưu diễn vòng quanh nước Mỹ khi mà tay bassist Sid Vicious đã giết bạn gái của mình là Nancy Spunge rồi tự tử bằng ma túy . Sự kiện này đa Vicious vào hàng những kẻ tử vì đạo ... ngờ nghệch và cũng đánh dấu luôn sự chấm dứt của punk rock dù cho nó còn âm ỷ đến suốt thập kỷ 90 .
Khi mà Punk đang thống trị trong giới trẻ , một band khác cũng đầy sức mạnh và ma quái đã xuất hiện : Motor Head . Motor Head đã đặt dấu ấn đầu tiên cho cái mà ngày nay gọi là thrash/speed/power metal hay cuối cùng gọi là death metal . Với dấu ấn đầu tiên chưa in đậm On Parole (1976) thì với các album tiếp theo vào nửa cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80 như Overkill, Bomber, Ace of Spades, và No Sleep ‘Til Hammersmith đã đưa họ lên đỉnh cao của dòng nhạc metal . Điều đáng ngạc nhiên là band này đã thu phục không chỉ các fan của metal mà luôn c các fan của punk , bắt đầu sự hòa nhập giữa hai dòng nhạc này để sáng tạo ra một dòng nhạc mới .

S.C
04-06-2003, 10:16 PM
Part VI :
Trong lúc Punk đang xáo trộn làng nhạc Rock , HM đã quay trở lại với Judas Priest, Queen, Scorpions, Accept ( band này có lối riff guitar khá đỉnh ), và trào lưu mới về HM ở Anh (New Wave of British Heavy Metal -NWOBHM). Đỉnh cao của NWOBHM đã xuất hiện với nhiều tên tuổi như : Diamond Head, Def Leppard, Iron Maiden, Saxon, Samson, Tygers of Pan Tang, Venom, Raven, và Sweet Savage nhưng cuối cùng chỉ còn Iron Maiden và Def Leppard là trụ lại . Judas Priest trở nên phổ biến với áo da , hoa tai , giầy gót đinh gây nh hưởng tới tính cách HM sau này ; Scorpions lần lượt tung ra những top của họ như Virgin Killer, Lovedrive, và Blackout đem lại cho người nghe một cảm giác pha trộng giữa ballads và heavy ; Accept đơn giản nhưng hiệu quả vô cùng với Breaker and Restless and Wild ; và Queen vẫn tiếp tục phá vỡ rào cản của âm nhạc với sự pha trộn hoàn hảo giữa thrash và vocal đầy huyền ảo trong "Stone Cold Crazy” hay sự kết hợp khéo léo giữa Rock và Opera trong “Bohemian Rhapsody"
Cùng lúc đó , Iron Maiden quay trở lại hình ảnh thần thánh hóa của metal với những cú riff heavy nhất trong thời gian tồn tại của mình trong Killers, Piece of Mind and Powerslave. Họ có lẽ là ban nhạc chơi nặng nhất cho tới lúc xuất hiện Metallica . Với những tiếng bass như sấm rền , Venom đã bắt đầu hướng tới một cái đích mới cho mình trong thrash metal với các album như Welcome to Hell hay Black Metal, cùng với các band khác như Motor Head và Judas Priest hay các band trẻ như Metallica, Exodus, Slayer, và Mantas đã đem lại một thứ âm nhạc nhanh và mạnh đến kinh người .
Những năm 80 đánh dấu sự xuất hiện của Van Halen ( 1978) với thầy phù thủy guitar Eddie Van Halen và những show trình diễn man dại của David Lee Roth .

S.C
04-06-2003, 10:17 PM
Part VII :
Bon Jovi có lẽ band HM mà nói về sự thành công chỉ kém Def Leppard ; hàng triệu đĩa rồi hàng triệu đĩa được bán hết veo ; hết bản top ballad này rùi đến bản top ballad khác . Slippery When Wet và New Jersey đã làm cả thế giới quay trở lại với thời điểm khi Def tung ra Pyromania và Hysteria . Cả hai band này đã đưa người nghe đến đỉnh điểm của những âm thanh chói lọi nhưng lại biết cách hòa nhập chúng với các tầng lớp nghe nhạc đưng thời khiến ta không khỏi nghĩ tới sự hòa nhập của MTV vào cuộc sống của giới trẻ hiện nay . Vào thời điểm này , Motley Crue và Ratt luôn đổi mới âm nhạc của họ trong từng album , kéo dài sự thành công của họ và hướng sự chú ý của người nghe tới pop metal đồng thời che phủ tất cả các nhóm khác còn lại . Kix, Faster Pussycat, và LA Guns với âm hưởng mạnh mẽ không kém của mình đáng nhẽ phải được hưởng những gì mà họ đáng có nhưng rồi cũng chìm ngập trong thất bại còn Kiss đã phi thay đổi nhạc của mình sang Pop Metal mà thí dụ điển hình là "Heaven’s On Fire."
Mặc dù vậy , pop metal đã tự giết mình bởi chính sự hào nhoáng và dễ nghe dễ gần của mình . Whitesnake , vẫn được coi như một metal band thành công vào thời điểm suốt từ thập kỷ 70 đã đần dần tắt ngúm và chỉ còn lại ba band trụ lại : Bon Jovi, Def Leppard, and Motley Crue . Sự nhàm chán đã kêu gào sự thay đổi , hãy đem tới một band không dễ dãi , không hào nhoáng , không đánh bóng thứ âm nhạc của mình , đến từ những con phố tăm tối và nhếch nhách . Gun ‘n Roses xuất hiện .
G ‘n R đã thỏa mãn được cơn khát ; Appetite for Destruction là một album đầy sức sống , quyết liệt , bao gồm tiếng guitar mang đậm chất blues và một giọng ca của Axl Rose dường như cất lên từ cõi chết . G ‘n R đã lóe sáng ngay lập tức với sự kết hợp với các band khác như Hanoi Rocks, the Rolling Stones, Aerosmith và các band pop metal khác với những ca khúc mạnh mẽ như “Welcome to the Jungle," "Night Train," and "My Michelle," hay mềm mỏng hn như "Sweet Child O’ Mine." . G ‘n R đã vực lại âm nhạc từ vòng xoáy của thưng trường để thống trị cùng Motley Crue trong khi Bon Jovi và Def Leppard chấp nhận một sự nghỉ ngi chưa có hạn định .

S.C
04-06-2003, 10:18 PM
Part VIII :
Sự xuất hiện của G ‘n R không dập tắt được sự nhen nhúm của các pop metal band khác .
Poison và Warrant có lẽ là những band đáng chú ý nhất trong số này không phi bởi âm nhạc của họ có gì mới ( thực tế âm nhạc của họ lại khá đơn giản ) mà chính là bởi sự xuất hiện ấn tượng của họ trên sàn diễn với các phục trang và lối diễn xuất kinh dị nhằm làm cho ai cũng phải ghi nhớ . White Lion cũng là một pop meal band khác cần phi nhắc tới trong thời điểm đó với "Lights and Thunder," "Cry For Freedom," "If My Mind Is Evil," and "Leave Me Alone." . Rồi Cinderella với chuỗi album ngọt ngào của mình , Europe làm kinh ngạc mọi bảng xếp hạng với “The Final Countdown" . Great White, Mr. Big, Bad English, Damn Yankees, và Slaughter cũng là những band có đóng góp không nhỏ nhưng cuối cùng phải nói đến là Skid Row với album mang đậm chất heavy ngay lần đầu tiên ra mắt đã rất thành công : Skid Row .
Pop metal càng trở nên hấp dẫn và đáng chú ý khi các band metal nữ xuất hiện . Runaways và New Wave of British Heavy Metal Girlschool ; hai band đã mang lại tiếng nói của phụ nữ trong nhạc Rock . "I Love Rock n’ Roll" , một nét quyến rũ của Joan Jett & the Blackhearts trong khi đó Lita Ford lại làm cả không trung phủ sóng single của mình "Kiss Me Deadly." .
Vào thời điểm này , vẫn có những band HM kinh điển đủ sức làm cả thế giới đôi lúc phải dừng lại trước vòng quay hối hả của âm nhạc . Black Sabbath với ca sỹ chính Ronnie James Dio đã quay lại với album Heaven and Hell và Mob Rules ; cả hai album với một sự thay đổi lớn về giai điệu . Ozzy Osbourne tuy đã tách riêng nhưng cũng đủ làm cho các fan của mình sống lại thời kỳ đỉnh cao với Blizzard of Ozz và Diary of a Madman , được phối khí cùng guitarist Randy Rhoads .
Một số các band khác năm 70 cũng đã trở lại với fan nhưng không đủ để vực lại cả phong trào vốn đã bị hẫng hụt khi chiến tranh VN và các nước khác kết thúc , phong trào hippi cũng tan rã . Một sự rã rời như định trước ...

S.C
04-06-2003, 10:20 PM
Part IX
Khi làn sóng pop metal đang bao trùm trên không trung , các fan của Motorhead và Venom đau đớn từng ngày với dòng nhạc metal ngày càng có xu hướng mềm mại hn . Mặc dù vậy , họ cũng được an ủi phần nào bởi sự phát triển phần nào của thrash/speed/power metal ( power metal đôi lúc còn bị chia nhỏ bởi tính chất anh hùnh ca mạnh mẽ của nó ) mà đi đầu là Metallica . Metallica đã kết hợp những đọan riff đa dạng , một giọng hát lúc nào cũng như đang gầm gừ và đặc biệt đã sử dụng dàn trống có tới hai pedal để tạo ra thứ âm nhạc mạnh mẽ và hung bạo hoàn toàn không đuợc MTV và các đài phát thanh để ý vào thời điểm đó . Vào một thời gian ngắn sau đó , Mercyful Fate và Exodus ( một phần quan trọng trong nền âm nhạc thrash metal của San Francisco Bay ) xuất hiện vực dậy Mettalica và mang metal chính hiệu quay trở lại với các fan.
Vào thời điểm đó có ba ban nhạc cùng song hành trên con đuờng Metal : Megadeth, Anthrax, và Slayer ( ban này được nhắc tới như là death metal band ) . Megadeth , được thành lập bởi cây guitarist cũ của Metallica Dave Mustaine , đã tạo ra loại âm nhạc mà về sau được gọi là techno-thrash , được biết tới bởi sự thay đổi liên tục về nhịp độ và các đoạn riff phức tạp được tô điểm phía sau bởi Mustaine . Trong khi đó , Anthrax thử nghiệm loại nhạc nặng hn , các đoạn riff nhanh hơn và có xu hướng thử nghiệm kết hợp với rap còn Slayer có lẽ là ban nhạc có những đoạn riff nặng nhất vào lúc đó và là thành viên góp phần tạo nên cái gọi là hình ảnh của Satanic ( quỷ Xa Tăng ) . Sau đó , Suicidal Tendencies cũng không kém phần với Lights... Camera ...Revolution , sự pha trộn với punk , alternative và rap của singer Mike Muir .
Toàn bộ cảnh tượng này có lẽ sẽ tan biến nếu không có sự giúp đỡ ở hậu trường về mặt kỹ thuật , khi mà các bản demo và thu âm được phát hành nhanh chóng trên toàn thế giới . Exciter, Overkill, Nuclear Assault, Dark Angel, Destroyer và một số band nữ cũng được nhắc đến trong lịch sử thrash metal để tạo nên sự tôn thờ đối với dòng nhạc này . Mặc dù vậy , thrash metal đã không đạt được sự ảnh hưởng cần thiết như nó muốn ...

S.C
04-06-2003, 10:21 PM
Darkthrone-Unholy Black Metal xuất sắc của Nauy

Darkthrone là một ban nhạc rất xuất sắc trong làn sóng các ban nhạc Black Metal đầu tiên tại Na Uy như Mayhem, Immortal, Emperor.... Năm 1986, Darkthrone thành lập tại Oslo gồm các thành viên: Gylve Nagell (Fenriz) chơi trống, Ted Skjellum (Nocturno Culto) chơi guita kiêm ca sĩ, Ivar Enger "Zephyrous" chơi guiar và Dag Nilsen chơi bass. Sau đó, họ cho ra 3 demo Land Of Frost, Thulcandra và Cromlech, rồi ký hợp đồng với hãng dĩa Peaceville của Anh. Mãi đến năm 1990, ban nhạc mới đến phong thu nổi tiếng Sunlight Studios tai Stockholm (Thụy Điển) ghi âm album đầu tay "Soulside Journey", album này bao gồm hầu hết các ca khúc demo trước đó và thêm một vài ca khúc mới. "Soulside Journey" là một album Death Metal khá hay nhưng Darkthrone chưa để lại dấu ấn gì cả. Tuy nhiên lúc đó, các thành viên mới 19 tuổi.

Năm sau, các thành viên của Darkthrone quen với Euronymous, một nhân vật nổi tiếng của Black Metal vào lúc đó. Euronymous thực sự gây ấn tượng với Darkthrone, họ nảy ra ý tưởng mới, đưa Death Metal theo một khuynh hướng mới, kết hợp nền nhạc Death Metal với chủ nghĩa Satan. Dag Nilsen không hài lòng và tách khỏi nhóm. Tuy nhiên, Nilsen vẫn là thành viên chơi theo mùa của Darkthrone. Năm 1992, Darkthrone hoàn toàn lột xác, một tuyệt kỹ của Black Metal "A Blaze In The Northern Sky" ra đời. Theo lời Fenriz thì Darkthrone của thời kỳ 1986-1992 đã không còn nữa, "A Blaze In The Northern Sky" như một album mở đầu cho kỷ nguyên mới của Black Metal.

Vào những năm đầu thập kỷ 90, Black Metal ở Na Uy bắt đầu nở rộ, tranh cãi xung quanh tư tưởng "Black Circle". Darkthrone tiếp tục một bước tiến mới với "Under A Funeral Moon" phát hành vào tháng 6 năm 1993, một album rất đặc trưng của Black Metal Na Uy. Trong album này, Nocturno chơi thêm vai bass. Hai album liên tiếp của Darkthrone chịu nhiều ảnh hưởng của Celtic Frost và Bathory. Trong năm đó, Fenriz thực hiện một solo riêng "Viterskugge" cũng do hãng Peaceville phát hành. Tuy nhiên Fenriz vẫn xem trọng vai trò của mình với Darkthrone. Năm 1994, album mới "Transilvanian Hunger" được phát hành, album khá hay nhưng hầu hết hát bằng tiếng Na Uy, trong đó 4 ca khúc cuối do Varg Vikerness sáng tác. Lời nhạc chứa đậm màu sắc tà giáo, ngoại đạo, trong ca khúc "As Flitermice As Satans Spys" có câu "In the name of God let the churches burn". "Transilvanian Hunger" được xem là album rất tiêu biểu cho dòng Norwegian Aryan Black Metal. Tuy nhiên việc quá nhiều ca khúc bằng tiếng Na Uy khiến cho hãnh Peaceville không hài lòng và họ chấm dứt hợp đồng với Darkthrone. Darkthrone chuyển sang ký họp đồng với hãng Moonfog qua sự giới thiệu của ban nhạc Satyricon.

Năm 1995, album đầu tiên của Darkthrone với hãng Moonfog "Panzerfaust" được phát hành trong đó có một số ca khúc bằng tiếng Na Uy do Varg Vikerness viết. Darkthrone quay lại thời kỳ đầu tiên của Black Metal do Celtic Frost khởi xướng. Album chịu ảnh hưởng rất to lớn của Celtic Frost. Tuy nhiên, "Panzerfaust" không thành công lắm. Sau đó, không rõ lý do vì Zephyrous biến mất. Darkthrone chỉ còn lại hai thành viên từ lúc đầu. Cũng năm đó, Fenriz bận rộn với rất nhiều kế hoạch ngoài Darkthrone, giữa năm Fenriz thực hiện một solo bằng tiếng Na Uy "Hostmorke" với Satyricon, đến cuối năm, Fenriz cùng với Frost và Satyr của nhóm Satyricon thực hiện một demo "Norwegian Lore" nói về quê hương Na Uy. Tuy nhiên, tất cả mọi solo của Fenriz đều không có tiếng vang gì.


Năm 1996, Darkthrone cho ra album tiếp theo với hãng Moonfog "Total Death" chỉ với Fenriz và Nocturno Culto. Lời nhạc của "Total Death" không có bài nào do Fenriz viết mà do Nocturno, Ihsahn (Emperor) và Satyr viết. Darkthrone đã trở lại với chính mình và "Total Death" được đông đảo các fan của Black Metal đón nhận. Sau đó, Fenriz im hơi lặng tiếng một thời gian, có tin cho rằng Fenriz đi ra nước ngoài nghỉ ngơi một thời gian. Tưởng chừng như Darkthrone đã tan rã nhưng không lâu sau Fenriz trở lại với Darkthrone.

Năm 1997, Nocturno Culto và Fenriz mời lại Dag Nilsen, Zephyrous và Satyr thực hiện album "Goatlord" gồm các ca khúc trong khoảng thời gian từ 1991-1994 của Darkthrone nhưng chơi theo phong cách khác và có sửa đổi về lời. Tuy nhiên, album không thành công lắm, Fenriz và Nocturno cảm thấy chán nản và họ quyết định tạm nghỉ ngơi một thời gian. Năm 1998, để biểu dương những đóng góp của Darkthrone, 8 ban nhạc của Na Uy có ít nhiều ảnh hưởng của Darkthrone như Satyricon, Emperor, Dimmu Borgir... thực hiện album "Holy Darkthrone". Như được khích lệ, Fenriz và Nocturno Culto quyết định trở lại.

Tháng 6 năm 1999, Darkthrone trở lại với album mới "Ravishing Grimness" thành công rực rỡ. Bây giờ chỉ còn Fenriz và Nocturno trong phòng thu đảm nhận tất cả mọi công việc của một ban nhạc. Đến năm 2000, hãng Peaceville phát hành album "Preparing For War" tổng hợp các ca khúc hay của Darkthrone từ "Soulside Journey" đến "Transilvanian Hunger". Mới vừa rồi Darkthrone cho ra album mới "Plaguewielder". Giờ đây chỉ còn hai thành viên nhưng Darkthrone vẫn luôn sánh bước cùng với Metal vào thế kỷ 21. Có lẽ họ không muốn đứng ngoại cuộc với kỷ nguyên được xem là sự nổi dậy mạnh mẽ của Metal.

A Blaze In The Northern Sky-Darkthrone-1992-Peaceville

"Hear the Pride of A Northern Storm. Triumphant Sight on A Northern Sky"
Một ngọn lửa sáng rực trên bầu trời Bắc Âu, Darkthrone đã làm nên một ngọn lửa cháy bừng của Black Metal. Đây là album đầu tiên của Darkthrone mà tôi nghe và cũng thích Darkthrone từ lúc đó. Celtic Frost ảnh hưởng rất nhiều đối với Darkthrone, trong đoạn dạo đầu của ca khúc "In The Shadow Of The Horns" nghe rất giống với album đầu tay của Celtic Frost "Morbid Tales". A Blaze In The Northern Sky là một album đỉnh cao của Black Metal Na Uy ở buổi đầu, lúc đó sự khác nhau giữa Death và Black Metal chưa rõ nét. Mặc dù có tai tiếng này nọ nhưng không thể phủ nhận Darkthrone là một ban nhạc Black Metal cực xuất sắc. Tiếng guitar kêu rít hòa trộn với giọng hát như điên dại của Nocturno Culto và tiếng trống nhịp nặng nề của Fenriz, có lẽ bạn sẽ cảm thấy như mình đang nghe một album Death Metal với âm thanh và giọng hát cực quái dị. Trong các album của Darkthrone thì điều ưng ý nhất là điệu guitar bập bùng và giọng hát rất đặc trưng cho sự ma quái của Black Metal. Lời ca mang đậm bản chất tà giáo, ngoại đạo, điều này giống với Mayhem. Ca khúc sau cùng "The Pagan Winter" cực hay tuy nhiên tôi có thể đảm bảo với các fan của Black Metal là không một ca khúc nào trong album này làm bạn thất vọng. Rất nhiều fan của Black Metal yêu thích A Blaze In The Northern Sky và chắc bạn cũng không phải là ngoại lệ.Theo lời tựa thì album này dâng tặng cho vị vua của Black Metal Na Uy: Euronymous. Nhìn tựa đề album này, tôi mong muốn một ngày nào đó một ban nhạc Metal của Việt Nam sẽ phát hành một album có tựa "A Blaze In The Southern Sky". Liệu điều đó có qúa xa vời không?

Under A Funeral Moon-Darkthrone-1993-Peaceville

Kinh hoàng Black Metal, Darkthrone tiếp tục làm nên một ngọn lửa cháy rực nữa sau A Blaze In The Northern Sky. Với hai alubm liên tiếp thành công rực rỡ, Darkthrone đi vào lòng các fan của Black Metal. Các fan của Black Metal không được bỏ qua album này. Bạn sẽ cảm giác như một cái cối xay gió đang ào ạt thổi nhưng nhịp điệu bị phân cách thành từng mảnh riêng biệt. Tôi muốn bật người dậy khi nghe đoạn dạo đầu với nhịp điệu rất mãnh liệt trong "Natassia in Eternal Sleep". Có thể nhận xét album này thành hai góc độ: rất điển hình cho tư tưởng Sa Tăng của các ban nhạc Black Metal Na Uy (lời nhạc do Fenriz viết như những vần thơ của Sa Tăng) và là một hướng đi đúng đắn cho các ban nhạc Black Metal về sau. Chẳng có ban nhạc Black Metal nào của Na Uy về sau lại không biết Darkthrone cả.Tiếng đàn guitar nhanh mạnh, chói tai bao quanh tiếng trống thình thịch của tay trống xuất sắc Fenriz làm thành một thứ âm điệu thật tàn khốc. Giọng hát của Nocturno Culto thật mãnh liệt như muốn lấn át tất cả mọi âm thanh do đàn, trống tạo nên. Tôi dám khẳng định: đây là một kiệt tác của Darkthrone và cả của Black Metal. Sự đa dạng trong cấu trúc của các ca khúc và nhịp điệp bị phá cách. Tất cả mọi điều khẳng định tài năng xuất sắc của Fenriz và Nocturno Culto. Nếu bạn muốn sưa tầm các album thật hay của Black Metal thì Under A Funeral Moon xứng đáng nằm trong danh sách đó. Năm 2001, hãng Peaceville phát hành lại album này, họ trích lời tựa là "Seriously Black Norwegian Metal. A completely mayhemic piece of art".

Transilvanian Hunger-Darkthrone-1994-Peaceville

Sau hai thành công liên tiếp, Darkthrone cho ra album thứ ba Transilvanian Hunger có tới 6 ca khúc bằng tiếng Na Uy, tôi cảm thấy rất bực bội về điều này dù rằng Transilvanian Hunger cũng là một album khá hay, khá tiêu biểu cho "True Norwegian Black Metal". Bạn sẽ phần nào hình dung ra vị lãnh chúa khát máu, chủ nhân toà lâu đài vùng Transilvanian, bá tước Dracula trong ca khúc "Transilvanian Hunger". Theo tôi, đây là ca khúc hay nhất trong album này và là một trong những ca khúc của Darkthrone mà tôi rất thích. Có rất nhiều ý kiến khác nhau về "Transilvanian Hunger", riêng tôi cảm thấy có đôi điều có thể nói về "Transilvanian Hunger", tiếng guitar của Nocturno và Zephyrous đối ngẫu về âm nhưng hay lặp lại nhiều nhịp giống nhau, tay trống cự phách Fenriz luôn xuất sắc và giọng hát tựa như ma quỷ kêu rào của Nocturno làm người nghe có cảm giác như quỷ dữ đang hiện hữu. Trong album này, Fenriz kiêm thêm vai bass. Sự hoà âm phối khí là điều ưng ý nhất về album này. Nếu bạn đã nghe hai album trước đó của Darkthrone có lẽ bạn sẽ không hài lòng với album này, tôi chỉ đáng giá 7/10. Ca khúc "As Flitter As Satans Spys" mang đậm màu sắc của Sa Tăng: "A Fare to Raise the Flag (of Satan)". Các bạn sẽ không phàn nàn gì nhiều về chất lượng âm nhạc nhưng chỉ có duy nhất 2 ca khúc bằng tiếng Anh. Tuy nhiên, nếu bạn thích Black Metal thì bạn cũng không nên bỏ qua album này. Điều may mắn là các album xuất sắc của Darkthrone hầu hết đều hát bằng tiếng Anh.

S.C
04-06-2003, 10:22 PM
Khai quat mot phan the loai Doom Metal


Doom Metal là gì? Đây chắc hẳn là một trong những câu hỏi khó khăn nhất để trả lời và là cuộc tranh luận trong rất nhiều bài bình luận của các tạp chí. Tuy nhiên, có một số điều mà chắc chắn đúng khi nói về Doom Metal.

Trước hết, Doom Metal là một thể loại Metal phát triển từ nền tảng của Metal trong thập kỷ 70.

Thông thường, tên gọi của một thể loại dựa vào âm thanh vào thể loại đó tạo ra. Vậy điều gì khiến Doom Metal khác biệt với các thể loại khác. Một câu trả lời là Doom Metal chứa đựng những tính chất như: nặng nề, bóng tối, nỗi buồn, sự chán nản và tâm trạng u sầu. Doom Metal bắt nguồn từ bóng tối và không khí buồn bã mà không hề ồn ào như khác thể loại Metal khác.

Đối với nhiều ban nhạc, nền tảng của Doom Metal cũng khởi nguồn từ Black Sabbath với hai album đầy tiên của họ, "Black Sabbath" và "Paranoid". Album đầu tay của Black Sabbath được xem là nền tảng cho Heavy Metal thì "Paranoid" mang nét đen tối hơn, đó là cảm hứng đầu tiên của Doom Metal. Tuy nhiên, ý kiến này vẫn còn đang được tranh luận. Qua đó, cho thấy Black Sabbath thực sự là ông tổ của Metal. Không có họ, ngày này không có Doom Metal hay bất cứ một thể loại Metal nào hoặc là Metal đã rất khác đi, không còn như những gì mà thế giới Metal đang chứng kiến.

Những hình thể đầu tiên của Doom Metal đã tồn tại từ thật kỷ 70 nhưng hầu hết các ban nhạc đem lại nhiều ảnh hưởng cho Doom Metal xuất hiện ở thập kỷ 80. Các ban nhạc như Trouble, Obssessed và Candlemass rất tiêu biểu cho Doom Metal trong thập kỷ 80.

Ngày nay, Doom Metal còn được biết đến như Doom/Death Metal, từ những giai điệu guitar nhanh, mạnh của Death Metal nhưng chuyển thể thành các giai điệu chậm rãi, giọng hát rất chậm, tiếng trống lê nhịp một cách nặng nề. Một trong những ca sĩ tạo ra bước đi này là Lee Dorian, ca sĩ cũ của Napalm Death. Anh thành lập ban nhạc mới: Cathedral. Các album đầy tiên của Cathedral vô cùng chậm.

Đặc điểm nữa của Doom Metal về âm nhạc là giai điệu rất chậm, đây là một điểm trái ngược với hầu hết các thể loại Metal khác. Đặc điểm này cũng dấy lên dư luận cho rằng Doom Metal là thể loại chán ngắt. Tuy nhiên, ngày nay điều này đã không còn chỗ đứng. Bất cứ thể loại này cũng đi từ con số 0, các ban nhạc sau phát triển lên từ nền tảng của các ban nhạc đi trước. Doom Metal rất chậm nhưng không phải là buồn chán.

Trong thập kỷ 80, Doom Metal có một dạng khác là "Stoner-Rock". Cả hai thể loại đều vươn đến âm thanh mạnh hơn trước đó. Một điều sai lầm là nghĩ rằng "Stoner-Rock" là hình dạng duy nhất của Doom Metal. Và cũng là thiếu sót khi cho rằng Doom/Death Metal là hình thức duy nhất của Doom Metal.

Tóm lại, tất cả mọi cố gắng định nghĩa Doom Metal hay bất cứ một thể loại nào dựa trên những đặc điểm của thể loại đó để vạnh rõ một tính chất tinh khiết của thể loại đó đều là sai lầm. Tên gọi chỉ nói nên một sự tương đối để phân biệt Doom với bất cứ một thể loại nào, không có gì gọi là tinh khiết hoàn toàn. Ví dụ như nhiều sự tranh cãi rất vô ích như là: harmonic doom, evergetic doom. Ngày nay, các ban nhạc Doom thường xuyên sử dụng violon, sáo, bộ gõ và rất nhiều các nhạc cụ khác bên cạnh guitar, trống, keyboard. Thậm chí, Doom còn được pha trộn với Black Metal, nhạc cổ điển...

Lịch sử của Doom Metal cho đến hôm nay chia làm ba thời kỳ:
Thập kỷ 70:
Từ các album của Black Sabbath như: Black Sabbath, Paranoid, Master of Reality, Vol 4, Sabbath Bloody Sabbath và Sabatage. Metal bắt đầu hình thành và cả Doom Metal cũng vậy.

Trong thập kỷ 70, ngoài Black Sabbath, cũng có một số ban nhạc khác đóng góp cho Doom Metal vào lúc sơ khai như Pentagram, Blue Cheer, Black Widow. Mọi sự lúc đó còn hỗn độn. Có ý kiến cho rằng cột nguồn của Doom đã có từ cuối thập kỷ 60. Điều này cho đến nay vẫn còn tranh cãi.

Pentagram cũng được xem là một trong những ban nhạc Doom có rất nhiều đóng góp cho sự hình thành của Doom Metal. Black Sabbath được xem là vị cha già của Doom Metal nói riêng và Metal nói chung nhưng điều đó cũng không có nghĩa họ là ban nhạc duy nhất để lại ảnh hưởng cho Metal sau này.

Thập kỷ 80:
Đây là thời gian Heavy Metal nở rộ với làn sóng 'New Wave Of British Heavy Metal' vào cuối thập kỷ 70, Doom Metal vẫn còn trong bóng tối. Sau này, sự đóng góp của các ban nhạc trong thời gian này mới được nhắc đến.

Một ban nhạc có nhiều ảnh hưởng về sau là Trouble, Trouble đến từ thành phố Chicago (tiểu bang Illinois, Mỹ), họ thành lập vào năm 1979 nhưng mãi đến năm 1984, họ có được biết đến. Nhạc của họ rất chậm, nghe giống như một ban Heavy Metal chơi vụng về.
Saint Vitus, một ban nhạc đến từ thành phố Los Angeles, cũng có rất nhiều ảnh hưởng cho Doom Metal. Saint Vitus đem đến tên gọi 'Stoner Rock' vào lúc đó.
Tuy nhiên, ban nhạc Thụy Điển Candlemass mới thực sự đem đến luồng sinh khí khổng lồ cho Doom Metal. Năm 1986, Candlemass cho ra album 'Epicus Doomicus Metallicus', một tảng đá thực sự của Doom Metal. Có thể khẳng định, Candlemass là ban nhạc để lại rất nhiều ảnh hưởng cho Doom Metal về sau, mặc dù nhạc của họ lấy cảm hứng trực tiếp từ Black Sabbath, ca sĩ Messiah Marcolin với giọng hát trong, sâu được xem là thủ lĩnh của Doom vào lúc đó.

Một ban nhạc tiên phong của Doom vào cuối thấp kỷ 80 là Cathedral của ca sĩ lee Dorrian. Khi Lee tách ra khỏi Napalm Death, anh thành lập một ban nhạc với phong cách trái ngược một trời một vực với Napalm Death. Các album đầy tiên của Cathedral vô cùng chậm như 'Forest Of Equilibrium' và 'The Ethereal Mirror'. Về sau, Cathedral có thay đổi phong cách đôi chút.

Thập kỷ 90:
Đầu thập kỷ 90, Doom Metal bắt đầu trổi dậy. Lúc này, Doom bắt đầu pha trộn một phần với Death Metal. Các ban nhạc như Winter với album 'Into Darkness' phát hành năm 1990, Thergothon với album 'Fhragn-nagh Yog-Sothoth' phát hành vào năm 1991 là những ban rất tiêu biểu cho sự kết hợp giữa Doom và Death Metal. diSEMBOWELMENT cũng là một ban nhạc sáng chói của Doom/Death Metal.

Ban nhạc Paradise Lost, một ban tiêu biểu cho Gothic/Doom cũng có rất nhiều đóng góp vào giai đoạn đầu thập kỷ 90. Album 'Lost Paradise' (1990) có rất nhiều ảnh hưởng của Death Metal và tuyệt phẩm 'Gothic' (1991) của họ để lại rất nhiều ảnh hưởng cho các ban nhạc sau.

Một ban rất nổi tiếng của Doom/Death là My Dying Bride của hãng dĩa nổi tiếng chuyên ghi âm cho các ban nhạc Doom Metal: Peaceville. Sau demo 'Infernus Et Spera Empyrium' vào năm 1991, họ gây rất nhiều sự chú ý và với album 'Turn Loose The Swans' phát hành năm 1993, họ được xem là ban nhạc rất nổi tiếng của Doom Metal đương đại. Một ban nhạc khác cũng không kém cạnh là Anathema. Tuy nhiê, đóng góp của hai nhạc trên vẫn chưa được xem là to lớn như Candlemass hay Cathedral.

Một ban nhạc khác trung thành tuyệt đối với nền tảnh của Black Sabbath là 'Earth'. Họ đem lại một hình thái mới cho Doom: Drone Doom.


Giữa thập kỷ 90, các ban nhạc như 'The 3rd' và 'Mortal' tạo ra một thể loại Doom được pha loãng hơn với giọng hát của ca sĩ nữ. Tiếp bước theo Thergothon, các ban nhạc như Funeral, Skepticism, Esoteric chơi với phong cách hết sức chậm rãi trên nền Doom/Death do Thergothon để lại.
Ngoài ra, còn có sự kết hợp của Gothic/Doom/Black như 'Threatre of Tragedy'. Và cũng còn rất nhiều các ban nhạc khác ảnh hưởng từ những tên tuổi vô danh ở thập kỷ 80.

Hiện tại, Doom Metal đã rất đa dạng, rất khó có một định nghĩa hay một sự phân biệt hoàn toàn nào với các thể loại khác. Thế kỷ 21 đã sang, tương lai sẽ còn tiếp tục. Không một ai dám khẳng định tương lai của Doom Metal hay của Metal sẽ như thế nào? Thời gian sẽ trả lời.

S.C
04-06-2003, 10:23 PM
JRR Tolkien--Nguồn cảm hứng vô tận của Metal


Không một nhà văn nào lại có ảnh hưởng to lớn với âm nhạc như JRR Tolkien. Không cần phải nói nhiều về ông ta, tác giả của những kiệt tác như "Silmarillion" và "The Lord Of The Rings" và bộ sử thi về thế giới "Middle Earth". Tolkien sinh tại Nam Phi, tốt nghiệp văn học tại đại học Oxford và giảng dạy tại đó cho đến cuối đời.

Mối liên hệ giữa rất nhiều ban nhạc, nghệ sĩ với thời Trung cổ và sự kì bí được mọi người biết khá nhiều nhưng đâu là lý do rõ ràng nhất? Tất nhiên không hoàn toàn trùng hợp với Tolkien, ông là nguồn cảm hứng cho rất nhiều ban nhạc và nghệ sĩ. Tác phẩm "The Lord Of The Rings" là một thiên sử thi anh hùng ca vĩ đại của thế giới văn học.

Điều gì khiến cho tên tuổi của Tolkien vượt lên trên tất cả . Trước hết đó là chiều sâu của nội dung. Tolkien không chỉ tạo ra thế giới của riêng ông với các chủng tộc kì lạ và những huyền thoại đen tối về những con yêu tinh, những chú lùn mà ông còn làm cho thế giới "Middle Earth" tưởng tượng thật phong phú hiện lên trong các tác phẩm của mình. Đọc những tác phẩm hoành tráng của Tolkien, người đọc cảm nhận được lịch sử của những chủng tộc và các nền văn hoá được diễn giải một cách chi tiết, khúc triết bằng hình ảnh, ngôn ngữ, văn hoa chứa những đặc điểm của văn hoá hiện thực.

Vậy đối với Metal thì thế nào?

Không thể biết được có bao nhiêu ban nhạc, nghệ sĩ lấy cảm hứng từ Tolkien. Từ tên ban nhạc, biệt hiệu, lời nhạc.

Các ban nhạc Metal ảnh hưởng từ Tolkien được chia làm hai hướng chính: tên ban nhạc và nội dung các dĩa nhạc. Có vô số ca khúc hay lấy lời tựa về Tolkien, ví dụ rất điển hình là ban nhạc Đức Blind Guardian có khá nhiều ca khúc lấy cảm hứng từ Tolkien như bài "Lord Of The Rings" trong dĩa "Tales From The Twilight World", hai bài "The Bard's Song" và "Somewhere Far Beyond" trong dĩa "Somewhere Far Beyond". Ban nhạc Na Uy Tristania đặt tựa đề cho các ca khúc trong dĩa "Beyond The Veil" là "Beyond The Veil"-album Tolkien-esque "Simbelmynë". Ban nhạc Nga Rakoth thì đặt lời tựa cho dĩa đầu tay của họ "Planeshift" là để tưởng nhớ Tolkien.

Các dĩa nhạc mang nội dung về "The Lord Of The Rings" là phổ biến hơn cả. Ví dụ như ban nhạc Đức Stormwitch với dĩa "War Of The Wizards", ban nhạc Áo Rivendell với dĩa "The Ancient Glory" . Blind Guardian thì sáng tác dĩa "Nightfall In Middle Earth" từ tác phẩm "Silmarillion". Ban nhạc Black Metal Áo Summoning cũng là ví dụ rất cụ thể cho sự liên hệ giữa Tolkien và Metal. Các dĩa nhạc của họ như "Lugburz", "Minas Morgul" và "Dol Guldur" đều có một phần liên hệ với tác phẩm "The Lord Of The Rings" mặc dù họ không kể lại toàn bộ câu chuyện.

Khi nhìn vào biệt hiệu của các ca sĩ, ban nhạc, một điều nhận thấy có vẻ bài học vỡ lòng của Black Metal là các tác phẩm của Tolkien. Bút danh của các nghệ sĩ, các ban nhạc lấy từ tên những địa danh trong các tác phẩm của Tolkien, có vẻ như họ muốn lấy một cái tên nghe thật đen tối, hung dữ.

Đây là danh sách một số ban nhạc, ca sĩ mà phong cách của họ có ảnh hưởng từ Tolkien. Tuy nhiên, danh sách này vẫn chưa đủ.
Rivendell, Arathorn, Minas Tirith, Minas Morgul, Isengard, Gandalf, Moria, Burzum, Count Grishnack, Lugburz, Ancalagon, Marillion, Morgoth, Rhûn, Amon Amarth, Gorgoroth, Fangorn, Lothlorien, Mordor, Ephel Duath, Morannon, Dagorlad, Elbereth, Morgul, Nazgul, Shagrath, Shadow Host, Cirith Ungol, Cirith Gorgor, Evereve, Khazad-dûm, Nargothrond...

Tóm lại, Tolkien có ảnh hưởng đối với Metal hơn bất cứ một nhà văn nào nhưng câu hỏi "Tại sao?" vẫn đang chờ một câu lời thoã đáng.

S.C
04-06-2003, 10:25 PM
Lacuna Coil và Metal -Giai nhân và quái vật.


Quái vật" ở đây là bản chất của nhạc Metal, còn "giai nhân" là Cristina Scabbia" rất quyến rũ. Ca sĩ làm say mê các khán giả với giọng hát như tiếng chim hót và nụ cười của thiên thần. Tâm hồn của Cristina chia làm đôi với vẻ đẹp và sự mạnh mẽ, các yếu tố đó tô điểm thêm cho nền âm nhạc Gothic. Khi Andrea Ferro từ bỏ vai trò ca sĩ của mình, nhiệm vụ này chuyển sang cho Scabbia. Cùng với hai guitar Cristiano Migliore và Marco Biazzi đánh những giai điệu sự mạnh mẽ, tiếng bass như sấm động Marco Coti Falzti, sự công kích bằng trống và bộ gõ của Cristiano Mozzati, đó là thành phần hoàn hảo của ban nhạc đến từ thành phố Milan.

Lacuna Coil thành lập vào năm 1996, tên gọi lúc đầu là Empty Spiral. Lúc đầu, ban nhạc không có Cristina Scabbia. Sau album đầu tay "In A Reverie", họ có chuyến buổi diễn với Skyclad, My Insanity, Samael tại các đại hội lớn như Dynamo Open Air tại Hà Lan, Metal Mania tại Ba Lan, Gods of Metal tại Italia. Sau chuyến đi thành công rực rỡ với album Gothic/Doom khét tiếng Lacrimosa của Thụy Sỹ. Họ cho ra một demo mới "Halflife" phát hành tại châu Âu. "Halflife" được ghi kèm theo album mới nhất của Lacuna Coil "Unleashed Memories" vừa mới phát hành tại Mỹ và được các tạp chí đánh giá rất cao.

Phóng viên của tờ tạp chí nổi tiếng Metal Maniacs đã phỏng vấn Cristina Scabbia khi ban nhạc diễn tại thành phố Brooklyn (bang New York). Qua buổi nói chuyến, khán giả hiểu thêm về Lacula Coil và Scabbia, sự nghiệp và cuộc sống thường ngày của họ.

Metal Maniacs: Thật là một buổi diễn tuyệt vời. Cô và các bạn thật tuyệt. Khán giả tràn nhập niềm vui. Cô và các bạn có cảm thấy mệt mỏi sau buổi diễn?
Cristina Scabbia: Chúng tôi vẫn chưa cảm thấy như vậy?
MM: Ban nhạc đã có kế hoạch biểu diễn dài hạn chưa?
CS: Hiện thời thì chưa.
MM: Cô hâm mộ những ca sĩ nữ nào?
CS: Tôi thật sự không có một thần tượng hay sự ảnh hưởng trực tiếp từ một ai đó. Tôi học hỏi mọi điều từ toàn bộ nền âm nhạc. Tôi đã từng thích Madonna nhưng tôi không ảnh hưởng một chút gì từ cô ta. Tôi cũng rất thích Anneke Van Giersbergen (ca sĩ của ban nhạc Hà Lan The Gathering) nhưng cô ta cũng chưa thật sự thể hiện lời nhạc một cách truyền cảm lắm.
MM: Thể loại Metal nào cô thích nhất?
CS: Tôi rất thích nhạc Gothic, giống như thích nhạc Rock vậy. Mọi người chưa hiểu lắm về nhạc Gothic, nhạc Metal sẽ cho thấy Gothic không chỉ buồn bã.
MM: Lacuna Coil có dự định gì tiếp?
CS: Dĩ nhiên là một album kế tiếp. Anh hãy chờ đợi, sẽ có các ca khúc rất dữ tợn (cười).
MM: Điều ưng ý nhất trong sự nghiệp của cô cho đến lúc này là gì? Cô đã tham gia rất nhiều đại hội Metal rồi.
CS: Ồ, tôi không bao giờ quên đại hội Wacken Open Air ở Đức. Thật là tuyệt! Mọi người phát điên lên với chúng tôi. Thật là tuyệt khi nhận một biển người đang hô vang tên mình. Khi lên sân khấu, chúng tôi là những con người khác.
MM: Thế nào cơ? Tôi thấy cô bây giờ đẹp và thông minh, gợi cảm và e lệ. Chỉ vài phút trước đây, cô quay vòng trên sân khấu. Khán giả hò hét xung quanh sàn diễn và dường như muốn khích lệ cô hơn nữa.
CS: Tôi luôn phát điên lên trên sâu khấu khi ban nhạc tôi biểu diễn. Đó là điều tôi không giải thích được.
MM: Mọi thứ với cô đều tốt đẹp, cô có thể nói cho tôi những lúc khó khăn trong sự nghiệp của mình?
CS: Từ khi chúng tôi kí hợp đồng với Century Media, mọi chuyện đều ổn cả. Chúng tôi có những trục trặc lúc đầu với họ nhưng bây giờ đã giải quyết xong. Tôi nghĩ lúc khó khăn cho chúng tôi là khi có một thành viên của ban nhạc phải thực hiện nghĩa vụ quân sự hay khi chúng tôi có nhiều ý kiến bất đồng với nhau. Có người muốn chuyển thể loại, có người muốn tiếp tục với Metal. Khi chơi Metal, chúng tôi có thể làm tất cả.
MM: Cô có nghĩ Metal là câu lạc bộ cho đàn ông, rất khó khăn đối với nữ.
CS: Tôi không nghĩ thế. Chắc chắn lúc đầu, rất ít các ban nhạc có thành viên nữ nhưng tôi nghĩ phụ nữ có thể đem lại những điều mới lạ. Dĩ nhiên là khó hơn được nam giới vì Metal là thể loại nhạc sinh ra với giọng hát mạnh mẽ và điều đó không phù hợp với nữ. Phụ nữ sẽ góp phần làm cho Metal thay đổi chút ít.
MM: Cô nghĩ mình đang đónh góp vào sự thay đổi đó?
CS: Vâng, tôi thấy hiện giờ có khá nhiều ca sĩ nữ trong các ban nhạc.
MM: Các khán giả nam có khi nào vây quanh cô ngoài sân khấu.
CS: Có, nhưng họ rất tuyệt. Không giống khán giả hay các girl band, một cô gái có thể gặp một ngưởi đàn ông và nói 'Đến đây, cưng. Đi với em và chúng ta sẽ có những giờ phút ngọt ngào." Điều đó hoàn toàn khác với các khán giả nam của tôi. Họ rất lịch thiệp, tôi chưa khi nào gặp khó khăn với các fan cuồng nhiệt và thô lỗ.
MM: Vậy cô có khi nào đi với một thành viên nam trong ban nhạc? (cười)
CS: Có (cười), chính vì vậy tôi mới là ca sĩ của nhóm, người yêu tôi chơi bass trong ban nhạc. Trước khi tham gia ban nhạc, tôi nấu ăn tại một nhà hàng. Tôi rất thích công việc ở đó và mọi người đều tốt với tôi. Đó là cuộc sống thường ngày của tôi ở Milan.
MM: Bây giờ cô không còn ở đó nữa. Mọi người ở đó sẽ nhớ đến cô.
CS: Khi không đi diễn, tôi làm một số việc nhỏ vì tôi không biết làm gì khi ở nhà hay khi tôi không làm việc với ban nhạc. Tôi không thích mình lại không làm gì cả vì vậy tôi chọn một công việc khác khi rảnh rỗi. Tôi thích giao tiếp và hiểu biết thêm từ mọi người.
MM: Cô sẽ sống ở Milan tron đời. Tôi nghe nói đó là một nơi tuyệt đẹp.
CS: Tôi thật sự không thích Milan lắm, một thành phố công nghiệp. Có quá nhiều người, tôi thích một nơi có yên tĩnh có nhiều cây cối và cảnh thiên nhiên hơn. Tôi cũng hạnh phúc vì nơi tôi đang ở tại Milan cũng yên tĩnh, cách xa trung tâm thành phố.
MM: Gia đình cô có ủng hộ sự nghiệp của cô?
CS: Họ luôn luôn ủng hộ tôi, tôi yêu họ vì họ không bao giờ gây trở ngại khi tôi tham gia chơi Metal. Họ tin tưởng tôi, họ nói "Nếu đó là những gì tôi thật sự mong muốn. Hãy làm việc đó.". Bây giờ, họ hạnh phúc vì họ biết những gì đang diễn thật quan trọng với sự nghiệp của tôi.
MM: Vậy còn thông tin đại chúng ở Milan thế nào? Ở đâu cô thấy sự nghiệp mình phát triển nhất?
CS: Anh có thể đi mọi nơi tại Milan hay Italy và nghe Metal. Có rất nhiều các ban nhạc hay nhưng sự trợ giúp từ truyền thông còn ít ỏi. Chỉ có một đài phát thanh về Metal nhưng bây giờ chúng tôi sắp có hẳn một kênh truyền hình Metal. Ban nhạc của tôi cũng được nhiều người mến hộ tuy nhiên cũng có một số ghen tị từ các nhóm khác.
MM: Tôi nghĩ tại châu Âu, các ban nhạc thường biểu diễn chung với nhau như một hình thức quảng cáo?
CS: Tùy từng ban nhạc, chúng tôi đã từng diễn vai phụ cho In Flames. Họ thật tuyệt, chúng tôi rất phục họ. Chúng tôi cũng tham gia một đại hội nhỏ tại Tây Ban Nha với họ, và cùng họ ăn tiệc quanh một hồ bơi.
MM: Vậy ngôn ngữ có là rào cản trong các ca khúc của Lacuna Coil?
CS: Không, chúng tôi nói tiếng Anh, chúng tôi dùng tiếng Anh, chúng tôi cũng có một vài ca khúc bằng tiếng Ý nhưng những ai biết tiếng Anh cũng thích chúng. Người Ý thích các ca khúc bằng tiếng Anh của chúng tôi. Tôi nghĩ không có rào cản về ngôn ngữ khi sáng tác nhạc. Có điều, chúng tôi dùng tiếng Anh là phương tiện để đưa nhạc của mình ra ngoài nước Ý.
MM: Cám ơn cô đã giành thời gian cho cuộc nói chuyện này sau buổi diễn.

Album thứ hai của Lacuna Coil "Unleashed Memories" rất thành công, mọi thông tin về họ có thể tìm thấy trong trang Web của ban nhạc. "www.lacunacoil.it"

S.C
04-07-2003, 09:35 AM
hehe ! vậy là xong ! ậc ậc !

HViet
04-07-2003, 09:45 AM
Bố mẹ ơi,đọc xong cái này chắc bán nhà trả tiền net.Người đâu mà nói nhiều thế!

zipcom
04-07-2003, 03:03 PM
Được lắm chú SauCoi. Clap ! Clap !

i like r....
04-07-2003, 03:15 PM
Bis bis...........bis bis......bộp bộp .......(tau đang vỗ tay ,ủng hộ mày nè....nghe rõ ko?)..bộp bộp......

S.C
04-07-2003, 07:32 PM
ục ục ! cái này W-baby lục trên mạng ! ục ục ! cũng chẳng biết nó bắt nguồn từ đâu ! nhưng nó được tổng hợp từ rẩt nhiều thông tin trên nhiều site của nước ngoài ! có thể qua www.rockUK.com cũng có 1 phần he he !

man-eating
04-07-2003, 10:36 PM
híc híc híc, ặc ặc, ba cái này lên ttvnol search ra cả đống, tui cũng có 1 rừng save trong máy nè

moo13
04-08-2003, 05:13 PM
mọi ng` cư snói làlục cái này lục cái kia!! vấn đề là mọi ng` lục về cho riêng mình còn ở đây họ lục rồi họ post lên mạng cho nhiều ng` khác!

S.C
04-08-2003, 07:49 PM
to man : he he ! bạn tìm được nhưng chưa có hệ thống ! ha ha ! những cái này đểu được dịch 99% , nhưng không phải W-baby dịch đâu !!!
to moo : Đồng ý với bác ! mk ! nhiều thằng còn dấu làm của riêng ! mk !

S.C
04-08-2003, 09:45 PM
he he ! bên ttvnol có thì đã giàu ! he he !!! đếch nói nữa ! ok ! thôi bài này chỉ là tài liệu thôi đề nghị các pác đừnng REPLY nữa nha ! !!

manowarhix
06-20-2003, 07:24 PM
híc iem là iem chịu bác Worm_Baby
chịu thật
Khâm phục bác vô cùng
Bộp Bộp Bộp.....

soul of rock
08-04-2003, 09:18 AM
uh bác worm post trâu ko chịu đc