PDA

View Full Version : Một số ROCK BAND ... Kick here !!!!


VietrocK
12-02-2002, 03:17 PM
http://www.ciudadfutura.com/rockbands/ironmaiden/logoironmaiden.gif
http://www.ironmaiden.com/ironmaiden/band/bandpic_2000.jpg

Được biết qua các hit "Two Minutes to Midnight", "Fear of the Dark" và "The Trooper" Iron Maiden đã và sẽ mãi mãi là một tượng đài lớn của làng Heavy Metal. Đây là cái tên được tay bass cựu trào Steve Harris đặt cho ban nhạc của mình . Iron Maiden được ra đời tại vùng Eastend, London - cái nôi của nhạc new wave và punk rock. Sự khắt khe trong việc chọn lựa nhân sự đã khiến mãi tới năm 1979 IRON mới ổn định đội hình . Họ gồm: Steven Harris (bass) , Dave Murray (Lead), Doug Sampson và Paul Di'Anno .

Đĩa đơn đầu tiên là: Soundhouse Tapes đã bán khá chạy qua đường bưu điện. Dù lúc này phải chịu sức ép rất nặng nề của các nhà sản xuất vì phong cách chơi nhạc không hợp thời đại lúc bấy giờ , Steven Harris đã từ chối rất nhiều hợp đồng để tự do dẫn dắt nhóm theo phong cách anh yêu thích. Nhóm kí hợp đồng với hãng EMI năm 1979 tháng 12 , và sau đó cho ra đời album xuất sắc như : Iron Maiden (1980) đã đưa nhóm lên đứng thứ 4 tại bảng xếp hạng của Anh. Khi này một tay lead mới đã gia nhập vào nhóm , đó là Adrian Smith. Chính Smith và Murray đã làm nên cặp bè đôi ghita xuất sắc bậc nhất trong lịch sử nhạc Rock. Những album kế tiếp như : Killers(1981), Number of the beast(1982) với sự gia nhập của ca sĩ Bruce Dickinson mà sau này rất thành công với giọng hát gầm gừ và ma quái với kiểu hát nhả ra từng chữ rất phù hợp với chất nhạc ma quái của Iron .Với những album như : Power Slave(1984), Piece of Mind(1983), Somewhere in Time(1986) và đặc biệt là tuyệt phẩm Seventh Son of a Seventh Son, Iron Maiden đã tự ghi tên mình vào hàng ngũ những ban nhạc vĩ đại trong lịch sử âm nhạc thế giới. Trong thời gian này Iron Maiden lại có thay đổi về nhân sự khi Smith ra đi , nhưng người thay thế là Jennick Gere dường như còn làm tốt hơn thế với sự ra đời của 2 album bất hủ : No Prayer for the Dying và đặc biệt là Fear of the Dark đã khiến số lượng fan hâm mộ tăng theo cấp số mũ trên khắp thế giới. Trong năm nay 2002 họ đã có kế hoạch cho tái xuất các album cũ của nhóm. Hy vọng họ sẽ thành công.

Các album của Iron Maiden:
1979-Soundhouse Tapes
1980-Iron Maidén981-Killers
1982-The Number of the Beast
1983-Piece of Mind
1984-Powerslave
1985-Live After Death (The World Slavery Tour)
1986-Somewhere in Time
1988-Seventh Son of a Seventh Son
1990-Trooper (single)
1990-Stranger in a Strange Land (single)
1990-Running Free Run to the Hills
1990-No Prayer for the Dying (single)
1992-Fear of the Dark
1993-A Real Live One
1993-A Real Dead One
1994-Live at Donnington '92
1995-The X Factor
1998-Virtual XI
2000-Brave New World

http://www.rockmusic.org/ironmaiden/maiden.jpg

Với phong cách cực kì ấn tượng , rất rõ nét trong làng heavy metal , Iron Maiden đã tạo nên một trường phái nhạc rất riêng của mình. Không phải là lối chơi với những nốt đơn thông minh ,lắt léo xuyên suốt các bài hát của Savatage; Không phải là tiếng đàn tru tréo, gào thét những giai điệu não lòng của Slash; không phải là tiêng trống dữ dội của Lars Ulrich ,những cú riff sắc nét và đôi tay diêu luyện của Kirk. Âm nhạc của Iron là sự kết hợp tinh tế nhuần nhuyễn đến tuyệt vời của 2 cây Lead. Tiêng đàn lúc thì thầm, lúc gào lên man dại ném chúng ta vào một thế giới mà chúng ta chưa bao giờ được biết . Một số người bảo rằng nhạc Iron rất khó hiểu và từ thành kiến đó họ cho rằng: Iron chơi nhẹ , không đủ phê... [/i]

VietrocK
12-02-2002, 03:31 PM
[scroll:7b8e3a7227][glow=red:7b8e3a7227][color=yellow]- TestamenT - [/color][/glow:7b8e3a7227][/scroll:7b8e3a7227]

Vào khoảng giữa thập niên '80, Thrash metal đang bước vào thời kỳ hoàng kim của nó. Một loạt những tên tuổi sừng sỏ xuất hiện, chiếm lĩnh sân khấu nhạc metal, đẩy lùi các nhánh khác của dòng nhạc này xuống thứ yếu. Thành phố San Francisco ở bang California được xem là "thủ phủ" của trào lưu này, đặc biệt là ở khu vực Bay Arena, nơi những sàn diễn luôn luôn sôi sục một không khí náo động bất kể là ngày hay đêm . Đây cũng là nơi xuất hiện "Tứ trụ Thrash Metal" của thập kỷ '80 bao gồm : Slayer, Megadeth, Metallica và Anthrax, mặc dù sự thực là trong bốn nhóm trên không có nhóm nào được thừa nhận là đã "châm ngòi" cho trào lưu này (công lao đó theo nhiều người thuộc về một nhóm nhạc ít nổi tiếng hơn nhiều đó là Exodus). Điều đó không có nghĩa rằng một ban nhạc không lọt được vào Tứ trụ lại là một ban nhạc bình thường. Trường hợp đó đã xảy ra với Testament, một nhóm nhạc đã đặt được dấu ấn riêng của mình trong dòng Thrash nói riêng cũng như Metal nói chung. Đã có lúc trong sự nghiệp của mình, Testament tiến nhanh như sao chổi thậm chí đe doạ cả thế thượng phong của chiến hữu Metallica nhưng đáng tiếc là ban nhạc đã không thể vươn tới đỉnh cao vì lúc họ đang ở trong quỹ đạo của thành công cũng là lúc mà thể loại Thrash metal đã mất đi sức quyến rũ của nó. Bánh của cỗ xe Testament đã bị trật khỏi đường khi đang phóng với tốc độ cao. Trong khi Metallica quay trở lại với các chất liệu Hard Rock truyền thống để rồi lôi kéo thêm được rất đông khán giả của dòng chính thống, Megadeth nhanh nhạy đưa vào nhạc của mình những chất liệu hợp thời...thì Testament vẫn mải mê khám phá những cái gì thuộc về Thrash thuần chất . Hệ quả là tiếng tăm của ban nhạc ngày càng mờ nhạt, mặc dù những fan "die-hard" của Thrash Metal vẫn trung thành với họ... http://www.scream.no/magazine/scr26/bilder26/testament.gif

Trở lại với năm 1983, được tạo cảm hứng từ nhóm nhạc Thrash lừng danh của vùng Bay Arena là Exodus; năm chàng thanh niên bao gồm Steve Souza (ca sỹ), hai cây guitar Eric Peterson và Derrick Ramirez, bassist Greg Christian cùng tay trống Louie Clemente đã thành lập nên nhóm Legacy - tiền thân của Testament. Nhưng trong hai năm đầu, như bao nhiêu nhóm nhạc khác ở san Francisco chơi một thứ nhạc Thrash "theo kiểu" Metallica, Legacy chẳng gây được tiếng tăm gì. Mọi chuyện chỉ thay đổi khi tay guitar tài năng nhưng mặt lúc nào cũng cau có Alex Skolnick gia nhập vào nhóm và ban nhạc đổi tên từ Legacy (Di sản) sang Testament (Di chúc). Với lối chơi cực kỳ sáng tạo và có "chiều sâu" của Alex, Testament đã vượt qua hàng loạt các nhóm làng nhàng khác, thậm chí là những tên tuổi trước đây nổi hơn họ nhiều như Forbidden hay Vio-Lence để giành được sự kính nể trong giới metal chuyên nghiệp tại Bay Arena
http://www.eastcoastromper.com/chuck_billy.jpg

Năm 1986, khi mà ban nhạc đã có đủ động lực cần thiết để giành được một hợp đồng thu âm "xịn" từ một hãng đĩa lớn thì ca sỹ Steve Souza bất ngờ quay lưng lại với nhóm để tới tham gia vào ban nhạc thần tượng của anh ta : Exodus. Nhưng thật mỉa mai vì đó lại là cơ hội để cho Testament có được một ca sỹ ác chiến và "ngon" hơn nhiều đó là Chuck Billy. Anh chàng này quả là một thứ "của trời cho" với giọng ca hiếm có cùng một lối hát thông minh không thể bắt chước được đến nỗi nhiều người coi Chuck là ca sỹ xuất sắc nhất của dòng Thrash metal ( vượt trên cả Tom Araya của Slayer, John Bush của Anthrax và tất nhiên là cả Jaymz Hetfield của Metallica ). Chuck có khả năng thể hiện tài tình những giai điệu lắt léo nhưng việc hát những ca khúc theo kiểu Death metal với anh cũng chỉ là chuyện...nhỏ, không đến nỗi phải tàn phá thanh quản một cách không thương tiếc. Và thế là với ca sỹ mới cùng bộ đôi guitar rất ăn ý Alex Skolnick - Eric Peterson, Testament trở thành một cỗ xe tăng chỉ biết tiến chứ không biết lùi, cho đến năm 1986 họ đã giành được hợp đồng thu âm với "ông lớn" của nhạc metal lúc bấy giờ là Megaforce Records (tất nhiên bây giờ đã phải nhường ngôi cho Nuclear Blast và Roadrunner).

Năm 1987, ban nhạc cho ra đời album đầu tay với cái tên "hoài cổ" là "The Legacy" để ghi nhận quãng đường lao tâm khổ tứ suốt 3 năm vừa qua. Đáng ra album này đã được phát hành trong năm 1986 nhưng Testament đã rất khôn ngoan ém lại một năm.

http://www.metal-guide.com/jpegsclas/Testament.jpg

Lý do thì ai cũng biết : 1986 là năm "hoàng đạo" của Thrash metal với hàng loạt các album "khủng bố" khác như "Master of Puppets" của Metallica, "Reign in Blood" của Slayer , "Peace Sells...But who's Buying?" của Megadeth...Thế cho nên khi xuất hiện vào năm 1987, "The Legacy" đã được chào đón như một album độc đáo , đây là sự kết nối hoàn hảo giữa những cú riff giận dữ và miệt mài với những giai điệu nhạy cảm. Những ca khúc như "Over the Wall", "First Strike is Deadly", "The Hauting", đặc biệt là bản tụng ca bất hủ "Alone in the Dark" đã làm cho tên tuổi của Testament vang đi khá xa. Họ lên đường lưu diễn khắp nước Mỹ và châu Âu trong vai trò hỗ trợ cho "siêu quậy" của dòng Thrash metal Anthrax (năm đó cũng đánh quả lớn với album "Among the Living"). Trong chuyến lưu diễn này, với những thành công của nhóm, Atlantic Records theo đuổi ký hợp đồng và Testament đã đồng ý bắt tay với hãng này. "Tặng phẩm" ra mắt của họ với Atlantic là "Live in Eindhoven" ghi lại buổi diễn của họ tại Hà Lan. Cho đến lúc này ở châu Âu, Testament chỉ đứng sau Metallica về mức độ nổi tiếng và cũng ở đây họ được coi là những nhà tân vô địch của làn sóng Thrash metal thứ hai trong lịch sử

Năm 1988 đánh dấu sự ra đời của album thứ hai "The New Order", vẫn kiên định với những chất liệu như ở album đầu tay. Tuy có hơi thua kém chút đỉnh so với album trước nhưng album này vẫn duy trì được tiếng tăm của ban nhạc.



Testament bắt đầu một tour vòng quanh thế giới, đến tận những nơi xa xôi ở Nam Mỹ, trong hành trang của họ đã có thêm những ca khúc ấn tượng khác như "Trial by Fire", "A Day Of Reckoning", "Into the Pit" . Không dừng lại, Testament tiếp tục cần mẫn xây dựng nên thành công của họ, album tiếp theo "Practice What You Preach" (1989) được trau chuốt rất kỹ lưỡng đã là một thành công vẻ vang chứng tỏ rằng ban nhạc không hề mất đi sức mạnh và sự hung hãn trong khi vẫn hướng cho nhạc của họ tiếp cận với những giai điệu độc đáo khó quên. Ai đã nghe album này hẳn không thể quên được những ca khúc như "Practice What You Preach", "Perilous Nation", "Time is Coming", đặc biệt là "The Ballad", một ca khúc mạnh mẽ ca ngợi tính kiên định của con người trên đường đời đầy hiểm nguy trắc trở.



Trong suốt năm đó, ban nhạc đi dọc nước Mỹ cùng với Savatage và Wrathchild America. Trong thời gian này giữa Testament và Savatage đã nảy sinh một mối quan hệ tốt đẹp, một tình bạn gắn kết chặt chẽ mà nhiều năm sau này vẫn không đổi thay.

http://www.metalprovider.com/metal2003/img/neworder.jpg http://static.epinions.com/images/newworld/782/150161-resized180.JPG

Từ một ban nhạc vô danh ở Bay Arena, chỉ sau vài năm Testament đã giành được sự nể trọng. Họ là một trong số ít các nhóm nhạc Metal được MTV ưu ái . Tuy nhiên sự hoạt động liên tục với cường độ cao đã bắt đầu làm nảy sinh bất đồng và rạn nứt trong nội bộ ban nhạc. Sau chuyến lưu diễn dài ngày hỗ trợ cho Judas Priest trong tour quảng bá cho album kinh điển "Painkiller" (1990) ( cũng có sự tham gia của một tên tuổi lừng danh khác là Megadeth ), các thành viên của ban nhạc đã vô cùng mệt mỏi, nhưng sức ép từ nhiều phía đã buộc họ phải gấp rút quay trở lại studio để thực hiện album tiếp theo, "Souls of Black" (1990). Ra đời trong hoàn cảnh các thành viên không còn hứng thú và sức lực, album này chỉ là một sự tập hợp vội vàng và rời rạc những bản demo cũ kỹ và những ý tưởng dở dang. Mặc dù cũng có những phút thăng hoa khó quên như "The Legacy" nhưng album này vẫn bị đánh giá là một album studio có chất lượng trung bình, nếu không muốn nói là kém. Nó cũng nhen nhóm tâm trạng thất vọng và bất mãn giữa các thành viên của Testament. Ban nhạc khôi phục lại chút ít danh tiếng với việc tham gia vào tour diễn "Clash of the Titans" ở châu Âu cùng với Slayer, Megadeth, và Suicidal Tendencies.

Năm 1992, Testament quay trở lại với album "The Ritual", một album xuất sắc và "đúng chất" Testament. Đáng tiếc là trong thời gian đó, khẩu vị âm nhạc của đông đảo người nghe đã thay đổi cùng với sự xuất hiện của cuộc cách mạng grunge từ Seattle, tuy không phải chịu chung số phận thảm hại như dòng Hair/Pop Metal nhưng Thrash metal và Testament cũng mất dần tầm hoạt động. Người nghe dường như đã cố tình làm ngơ những kiệt tác trong album này như "Electric Crown", "Return to Serenity", "As the Season Grey", "The Sermon" ... Và rồi điều tồi tệ đã xảy đến, con Át chủ bài của ban nhạc - guitarist Skolnick - người từ lâu đã phàn nàn về sự hạn chế trong sức sáng tạo do phong cách của ban nhạc đem lại - đã rời nhóm và tới gia nhập Savatage sau khi guitarist của nhóm này, Criss Oliva qua đời. Người thay thế anh trong các tour diễn tiếp theo là Glen Avelais, cựu thành viên của Forbidden ; rồi đến lượt tay trống Clemente cũng giữa đường đứt gánh, và lại được thay thế bằng một cựu thành viên khác của Forbidden là Paul Bostaph. Đội hình này chỉ cho ra được một EP không có tiếng tăm gì đó là "Return to the Apocalyptic City".

Năm 1994, Testament đón nhận sự gia nhập của tay guitar tài danh - kẻ lang thang bất định James Murphy (từng chơi cho Death, Obituary, Cancer ...) và tay trống John Tempesta từ ban nhạc huyền thoại Exodus. Đội hình này đã cho ra đời một "Low" đen tối và tàn khốc , đây cũng là album cuối cùng với hãng Atlantic . "Low" đánh dấu một bước chuyển trong phong cách sáng tác và biểu diễn của Testament, bên cạnh những ca khúc như "Trail of Tears", "Hail Mary" mang đậm dấu ấn của thời kỳ đầu thì cũng có những "Low" và "Dogs Faced Gods" cho thấy ảnh hưởng rõ nét của Death metal. Tuy khá hay nhưng nó cũng không giúp ban nhạc tiếp tục nhận được sự hậu thuẫn từ phía Atlantic Records , một hãng đĩa lớn chỉ chú trọng về mặt doanh số thương mại

Album "Live at the Filmore" (1995) của họ đã phải phát hành dưới nhãn hiệu riêng Burnt Offerings nhưng lại rất thành công . Testament tiếp tục có sự thay đổi về nhân sự : tay trống lừng danh Gene Hoglan từ nhóm Death đến gia nhập cùng với sự trở lại của thành viên cũ Derrick Ramirez, thay thế tay bass Greg Christian. Đội hình này đã phát hành "Demonic" (1997)- một album pha trộn giữa Death và Thrash mang đậm tính bạo lực chết chóc nhưng cho thấy sự quay trở lại của ban nhạc với những chất liệu truyền thống, tuy nhiên điều làm người hâm mộ lâu năm của ban nhạc thất vọng đó là sự thiếu vắng của những bản power-ballad đã làm nên tên tuổi cho Testament như "The Ballad", "Return to Serenity", "The Legacy" hay "Trial of Tears" trước đây.
"The Gathering", phát hành năm 1999 được thực hiện bởi một "Dream Team" bao gồm Chuck Billy và Eric Peterson - thành viên kỳ cựu; James Murphy, tay bass Steve Di Giorgio ( chơi trong album Dividual Through Patterns của Death) và trống thì được một tên tuổi rất "khủng" khác đó là Dave Lombardo từ nhóm Slayer tới đảm nhận. Đây là album tàn khốc nhất của Testament, giọng ca của Chuck Billy nghe khủng khiếp không thua gì Corpsegrinder của Cannibal Corpse, những ca khúc cũng có ca từ hết sức đen tối như "True Believer", "DNR" , "Legions of the Dead", "Down for Life".

http://www.sacredserpent.com/Web/Logos/Alex%20Skolnick.jpg

Năm 2001, Testament phát hành gần như cùng lúc hai album. Một bao gồm phiên bản mới của những ca khúc Thrash kinh điển ở thời kỳ đầu của ban nhạc mang tên "First Strike Still Deadly", một tập hợp nhũng ca khúc thành công nhất của ban nhạc mang tên "The Very Best Of".


Đội hình mới của Testament vẫn có sự góp mặt của Chuck Billy, Eric Peterson, Steve Di Giorgio và sự gia nhập của guitarist Steve Smyth - cựu thành viên nhóm Sadus cùng tay trống lập dị Jon Allen. Trong lúc đó, Alex Skolnick, anh chàng đa tài nhưng cau có từng một thời là con Át chủ bài của ban nhạc giờ đây đã trở thành một jazzman lừng danh ở East Coast, cùng lúc chơi cho bốn nhóm Skol Patrol, Skol Trio, Attention Deficit và Trans-Siberian Orchestra (một nhánh phụ của Savatage, chuyên trị thể loại rock-opera).



Tương lai của Thrash metal hiện nay nói chung là không rõ ràng, nhưng những người hâm mộ kiên định của dòng nhạc cuồng nhiệt và hung hãn này vẫn có thể tin tưởng vào những tên tuổi như Testament. Trong gần 20 năm qua, họ đã kiên trì với con đường mà mình đã chọn, không chấp nhận một sự thoả hiệp nào làm thất vọng những người luôn tin tưởng ở nơi họ. Nếu như bạn chưa biết đến Testament thì bạn vẫn chưa hoàn toàn hiểu kỹ về Thrash metal !

VietrocK
12-02-2002, 03:53 PM
[glow=cyan:48bd0b2b24][size=7][color=red][scroll:48bd0b2b24][b]MEGADETH[/b][/scroll:48bd0b2b24][/color][/size][/glow:48bd0b2b24]

[img]http://www.citypaper.net/articles/101101/pics/mu.megadeth.jpg[/img]

Sự nghiệp của Megadeth kéo dài trong 15 năm với 8 album và 1 collection, trung bình hai năm một album từ 1986. Chất giọng và những ngón đàn của Dave & Marty không hề thay đổi (sau này là Al Pitrelli, good guy), vẫn rực lửa và đay nghiến như cũ. Không giống với Metallica ngày càng trở nên già cỗi và chỉ còn lay lắt trên những hào quang quá khứ, Megadeth chơi một thứ Thrash metal vững vàng và kiên định, qua bao nắm chất nhạc có thể đã uyển chuyển giai điệu hơn và giảm bớt phần quá thuần tuý là kĩ thuật đi, nhưng không đánh mất phong độ của mình. Và cho dù người ta có nhắc tới tứ trụ Thrash Metal và ca ngợi những tên tuổi lừng danh như Testament , Anthrax hay cho dù Metallica là tượng đài số 1 của Thrash đi nữa thì cảm tình của các rockfan vẫn dành nhiều hơn cả cho Megadeth, chính bởi tài năng và sự tan rã oan nghiệt của họ.

[size=6]Killing is my business…And business is good - 1985 [/size]

[img]http://news.bbc.co.uk/olmedia/1910000/images/_1910481_mega300.jpg[/img]

Hẳn ai cũng biết rằng Dave Mustaine đã bị sa thải ra khỏi Metallica vì can tội đam mê chè chén. ”Quá choáng váng vì số phận, chàng thanh niên cất bước ra đi” với một quyết tâm sắt đá, và quyết tâm đấy đã định hình rõ nét hơn với kết quả là Megadeth ra đời. Hãng thu đĩa Combat miễn cưỡng ký hợp đồng với Megadeth năm 1984 và tháng 5-1985 Megadeth tung ra album đầu tay của mình với cái tên sặc mùi phản chiến: Killing is my business and my business is good - Đây thực ra là một khẩu hiệu rất phổ biến trong chiến tranh tại… Việt Nam. Sự xuất hiện đáng kinh ngạc này đã chứng tỏ rằng Dave vẫn có thể làm cái gì đó sau khi rời Metallica và những gì anh làm được trong album này quả thật tuyệt vời.


Mở đầu là một đoạn piano âm u nhưng tuyệt đẹp, nhưng trong khoảng 30 phút sau của album là cả một khoảng không gian bị cắt vụn ra thành từng mảnh vụn tan nát với những cú riff cuồng loạn, điên rồ, hung hăng, tàn bạo.. mà những đường nét này đã được Kerry King khắc hoạ rõ trong Season In The Abyss - phải chăng vì một thời gian anh đã từng chơi trong Megadeth? Những u uất thời niên thiếu của Dave đã được đẩy lên đỉnh cao trong những đoạn sô lô cực máu lửa trong đĩa này, nếu ai đã nghe những đoạn riff nháng lửa trong các bài như “Loved to death” hay “Chosen ones” thì sẽ hiểu cảm giác phê ghê cả người như thế nào. Tuy nhiên, tiếng đàn của Dave Mustaine trong album này còn đậm chất “trâu bò” mà thiếu đi rất nhiều tính nghệ thuật - điều làm nên tên tuổi cho Dave sau này! Ấn tượng sâu đậm nhất với album này là tiếng đàn của Dave nhưng không phải là Dave Mustaine mà là tiếng bass nhanh như động cơ phản lực của Dave Ellefson trong những bài mà tiếng bass có thể đưa vào từ điển âm nhạc như “ Skull Beneath the Skin” hay đoạn sô lô bass điên cuồng trong ”RattleHead”. Nhưng tiêu điểm của album lại là bài cuối cùng “Mechanix”. Đây thực ra là bài cover và phối lại theo phong cách khác bài hát kinh điển ”The Fours Horseman” của Metallica - ban nhạc đã thẳng tay đuổi cổ Dave. Không chút ngại ngần, Dave tuyên bố rằng bản hát lại của anh mới thật hay và hấp dẫn hơn nhiều so với bản cũ. (???)

[size=6]Peace Sells… But Who’s Buying - 1986 [/size]


[img]http://www.lyrics.com/m/megadeth/peace.sells.but.whos.buying.jpg[/img]

Năm 1986 thật sự là một năm rất đáng ghi nhớ trong làng nhạc lắm tài nhiều tật này. Đây là năm Hoàng Đạo của dòng Thrash với một loạt các album mà tên tuồi đã, đang và sẽ mãi mãi đi vào trái tim người hâm mộ như: ”Reign in Blood - Slayer”, ”Master of Puppets - Metallica” … và tất nhiên là cả album thứ 2 của Megadeth ”Peace Sell.. But Who’s Buying” cũng đứng trong hàng ngũ các album này, tuy nhiên, hãy điểm qua một chút sự kiện của cái năm đầy biến động này: Thứ nhất là sự ra đi quá sớm của tay bass Cliff Burton của Metallica, một người mà cái chết đã khiến anh thành bất tử, một sự mất mát quá lớn cho các fan hâm mộ. Tháng 11, Megadeth tung ra album này và ngay lập tức Hãng ghi âm Capitol Record nhảy ngay vào và nẫng tay trên quyền phát hành đĩa này từ Hãng ghi âm Combat lúc này còn chưa hết ngạc nhiên với thành công của “Killing is my business...And business is good” Tour diễn “Wake up Dead” của Megadeth đã được một tên tuổi đồng ý tham gia, đó là OverKill. Chuyến lưu diễn rất thành công,nhưng ngay sau tour diễn cuối cùng tại Hawai, Chris Poland và Gar Samuelson đã xin rút ra khỏi nhóm vì quá mệt mỏi (thật đáng tiếc vì nếu họ ở lại thì chắc tương lai đã mang màu hồng).



Quay trở lại với album, điều đầu tiên khiến người ta bị lôi cuốn nghe album này chính ở cái tên của nó, dịch tạm là : ”Bán rẻ nhưng chẳng ai mua ?” không hiểu các bạn nghĩ sao? chất lượng của Megadeth trong album này là còn hơn nhiều so với mọi lời xưng tụng, có thể thấy chất Thrash trong album này là khá rõ rệt ,điều này có thể thấy rất rõ trong các bài như: “Peace Sells… But Who’s Buying” hay “Devil’s Island” cùng các ca từ rất có ý nghĩa trong phần lớn bài hát của album. Điều đáng chú ý trong album này chính là tốc độ của những dải guita dài dằng dặc mà dưới đôi tay điêu luyện của Dave, thậm chí ta còn có cảm tưởng đây là tốc độ chơi ghita của những năm 90, Dave cho rằng bài hát hay nhất mà anh viết trong album này chính là bài đầu tiên “Wake up dead”. Đặc biệt là trong bài “Black Friday” tốc độ của 2 ghita: Poland và Dave thật sự rất gây ấn tượng…Và vì vậy không có lý do gì mà bạn không có album này trong bộ sưu tập của mình !!!

[size=6]So Far, So Good… So What - 1988[/size]

[img]http://users.otenet.gr/~memorain/Megadeth/SoFarSoGood.JPG[/img]

Hai năm sau thành công của “Peace Sells.. But Who’s Buying” . Megadeth tiếp tục làm sửng sốt các fan hâm mộ bằng một album rất xuất sắc với một cái tên gây ấn tượng không kém: ”So Far, So Good… So What”. Album thành công vang dội khiến cho tiếng tăm của Megadeth vang rất xa trên toàn thế giới, họ liên tục lưu diễn ở Canada, Mỹ… Đặc biệt, vào tháng 8, Megadeth còn đi lưu diễn tại lâu đài Donnington với các rockband gạo cội lúc bấy giờ là Kiss và Ironmaiden.

Mở đầu bằng một bản instrumental “In The Lungs of Hell” để phô diễn tài năng của Jeff Young và Dave Mustaine với những tiến bộ không ngờ về tài năng cũng như phong cách chơi nhạc, không còn lối chơi mang đậm chất “trâu bò” như trong album đầu tiên, mà là một lối chơi tương đối mạch lạc với những đoạn chuyển rất nhanh cũng như những cú riff còn mạnh mẽ và quyến rũ hơn nhiều so với những album trước. Nhưng cái điều mà các fan hâm mộ rất hài lòng trong album này chính là sự tiến bộ trong ngôn từ, nói như thế không có nghĩa là những lời ca trong các album trước là “những lời dối gian” nhưng thật sự trong album này thì cái lyrics thật sự là cái mà các rockfan nên liếc qua trước khi cầm cái headphone hay dí sát đôi tai vào loa! Lời ca rất ấn tượng, thật sự là như vậy. Có thể lấy ra nhiều ví dụ:

I’m the Anti-christ,and i’m an anarchist
Don’t know what i’m want but i know how to get it
Wanna destroy, possibly , Cause i wanna be anarchist...
-Anarchy in the U.K-

Forgive me father for what i sinnned
I’m a child of the air, i’m a witch of the wind
And i’m still awake….Mary Jane
- Mary Jane-

Nhưng bài hát để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong album này là bài ca tuyệt vọng “In My Darkest Hour”: Một trong những bài tuyệt tình ca hay nhất của họ mà ta còn thấy sau này với nhiều tác phẩm cực kỳ xuất sắc: A tout Le Monde, Promise…

Did you ever think i get lonely
Did you ever think that i neened love
Did you ever think to stop thinking
You’re the one that i’m thinking of !!!

[size=6]Rust In Peace - 1990 [/size]

[img]http://www.lyrics.com/m/megadeth/rust.in.peace.jpg[/img]

Đây chắc chắn là album được đánh giá là xuất sắc nhất của Megadeth dù sau này những album sau cũng là những album rất tuyệt vời, và quả thật, tôi cũng nghĩ như vậy. Album này là album cực kỳ hoàn hảo và nó ra đời cùng một thời kỳ với những album rất ấn tượng. Và có thể khẳng định trong năm 90 này chỉ có album ”Season In The Abyss - Slayer” là có thể đứng ngang hàng với “Rust In Peace”

Hoàn cảnh ra đời của cái album bất hủ này cũng có nhiều điều đáng phải liếc qua một chút! Tháng 1, Megadeth cover bài hát bất hủ ”No more Mr. nice guy” của Alice Cooper và đội hình của Megadeth lúc này chỉ là một ban nhạc 3 mẩu. Tình hình nhân sự của Megadeth cũng như cánh cửa của thành công mở toang với Megadeth khi tay ghita kiệt xuất Marty Friedman trở thành lead chính của Megadeth, tài năng của anh đã được thể hiện rất rõ trong những đoạn solo dài lê thê nhưng không hể đem lại cảm giác khó chịu mà nó chỉ khiến các fan hâm mộ đau ê ẩm cái sủ vì lắc điên cuồng mà không biết chán. Tháng 10, họ tung ra album “Rust In Peace” như một quả bom tấn ném vào tai dư luận và thành công của nó đã khiến Testament, Slayer, Suicidal Tendencies kéo Megadeth cùng lưu diễn cho tour "Clash of the Titans”

Bài hát mở đầu trong album này là một Anti War Song mà cái tên của nó liên tục có tên trong danh sách những bài hát phản chiến xuất sắc nhất ”Holy War…The Punisment Due”. Nội dung bài này nói về chiến tranh tại Trung Đông mà với những lời ca mà sau này trở thành bất hủ:

Brother will kill Brother
Spilling blood across the land
Killing for religion
Something i don’t understand

Track thứ 2 của album chính là một trong những bài hát đưa tên tuổi Megadeth trở thành tượng đài ”Hangar 18”, bài hát này được lấy làm sound track trong bộ phim viến tưởng rất nổi tiếng “E.T ngưòi ngoài hành tinh”, và nhiều người cho rằng thành công của bộ phim có phần đóng góp không nhỏ của bài hát này.

[img]http://www.80s.com/graphics/et-poster.jpg[/img]

Album này là đỉnh cao trong sáng tác cũng như sự phối hợp của 2 tay lead đôi mà tốc độ chơi của họ trong đĩa này có thể khiến các nhà vật lý kiểm tra lại vài định luật về speed. Với những cú riff điên cuồng, tiếng bass solo cùng cặp lead đôi đem lại những cảm giác ớn lạnh, tiếng ghita trong album này thật sự đem lại định nghĩa hoàn hảo nhất: Thế nào là dòng nhạc Thrash! Ngôn từ thật sự là không đủ để miêu tả cảm giác khi nghe album này, điều tốt nhất có thể làm là ngồi nghe lại album này thật kỹ nhiều lần nữa!! Một lần nữa, lyrics của album làm thay đổi quan niệm của người nghe với ấn tượng về dòng nhạc mang tiếng là “trâu bò” này:

You feel my fingertips
You won’t forget my lips
You’ll my cold breath
It’s the kiss of death
-Tornado of Soul-

Got one chance, infiltrate them
Get it right, terminate them
The Panzers will, permeate them
Break their pride, denigrate them
And their people, retrograde them
Typhus, detriate them
Epidemic, devastate them
Take no prisoners, cremate them
-Take no prisonners-

[size=6]Countdown to Extinction - 1992 [/size]


[img]http://www.vh1.com/shared/media/images/covers/170/120/124841.jpg[/img]

Tháng 7-1992, Megadeth tung ra tiếp album thứ 5 của mình. Đây thật sự là một năm rất bận rộn và hạnh phúc với Dave Mustaine, khi album của anh tiếp tục được đánh giá đúng với tài năng của anh - một thiên tài với cây đàn và ... chai rượu. Anh đi lưu diễn với Stone Temple Pilots và cũng trong năm nay, con trai anh ra đời!

Khác với những album khác, album này mang một tư tưởng rất lạ so với những album trước, không muốn nói đến tư tưởng phản chiến vì đấy thật sự là sở trường của họ và trong album này cũng vậy với bài hát mà tôi cực kỳ yêu thích “Symphony of Destruction”:

You take a mortal man>>> anh tóm lấy một thương binh
And put him in control>>> đặt vào tay anh ấy vũ khí
Watching he become a god.>>> Nhìn anh ấy biến thành 1 vị Thánh (hy sinh vì lý tưởng)

Tư tưởng chủ đạo của album này phải chăng là sự bức bối trong lý tưởng sống khi mà chế độ xã hội mà mình phục vụ chỉ là một đống rác rưởi và những sir lãnh đạo là những con bù nhìn bụng phệ! Tiếng đàn gay gắt như quát vào mặt mọi người là: Tôi là kẻ chán đời! Tiếng bass tốc độ của Effelson vốn tốc độ bỗng trở nên ảm đạm một cách bất thường, giọng hát của Dave chợt trở nên nhấm nhẳng và tiếng gầm gừ trong cổ họng bỗng trở nên rõ hơn bao giờ hết, sự gay gắt trong tư tưởng của anh còn thể hiện rõ nét trong lyrics, đặc biệt trong album này, điều này được thể hiện hầu hết trong tất cả các bài hát:

My blood flows through the streets
Deluge from the wounds
Empty jars of sleeping pills
On the dresser of my room
-Skin of my teeth-

New ideas will surely get by.
No deed, or dividend. Some may ask "Why?"
You'll find the solution, the answers in the sky.
-Foreclosure of a Dream-

Có lẽ, điều cuối cùng mà album này muốn nói tới, phải chăng là:

New ideas will surely get by.
No deed, or dividend. Some may ask "Why?"
You'll find the solution, the answers in the sky.
-Ashes in your mouth-

[size=6]Youthanasia - 1994 [/size]

[img]http://www.vh1.com/shared/media/images/covers/170/160/167853.jpg[/img]

Album này là viên gạch to lớn nhất đặt lên bức tường tên tuổi của Megadeth. Nói thế không có nghĩa rằng đây là album hay nhất, xuất sắc nhất hay thành công nhất của Megadeth mà đơn giản rằng: album này có cái gì đấy rất đặc biệt, rất thú vị mà những album kia không có hay chúng ta chưa thể nhận ra rằng nó có cái đó ?

Trở lại một chút với xuất xứ của album, năm 93 là một năm bận rộn của Megadeth khi những thành công của họ gắn liền với việc túi tiền họ đầy lên và lịch lưu diễn của họ kín đặc. Dave Mustaine được mời vào tour diễn của Diamond Head và mấy tuần sau họ lại tiếp tục diễn một vài ngày với Iron Maiden, nhưng cuộc đời đâu chỉ màu hồng, chắc vì ghen tị với thành công của Megadeth mà Aerosmith đã thẳng tay đuổi cổ họ trong tour diễn ”Get a trip” của mình. Nhưng không sao, Megadeth mời hẳn một tên tuổi đã xuất hiện mòn trong những câu khen ngợi: Pantera vào tour diễn “Countdown to Extinction”. Nói chung, những sự chuẩn bị cho “Youthanasia” là quá tuyệt vời nhưng chất lượng album là trên cả những gì ta mong đợi !

Sau khi tung ra một album hơi “khô và thẳng ruột ngựa” như Countdown to Extinction. Megadeth quyết định tung ra một album với một chút thoải mái trong chủ đề nội dung vói nhiều ý tưởng đan xen lẫn nhau và kết quả là một album tuyệt vời! Tất cả những âm hưởng classic của âm nhạc Megadeth đểu đã xuất hiện trong album này: sự hài hoà của bộ đôi ghita (Addited to Chaos), những cú riff bình bịch cổ điển(Reckoning Day, Victory, The Killing Road), tiếng trống trâu bò quen thuộc và hơn tất cả là tiếng đàn hào hoa đến lạ thường trong những đoạn solo của Marty Friedman ( Youthanasia , A tout le monde…). Dường như trong album này, Dave Mustaine đã thử chơi một vài bản ballad của mình nhưng không được như ý lắm, chính anh cũng từng nói rằng :”Đây đúng là album mà tôi yêu thích nhất của mình nhưng có cảm giác tôi chưa thể biến nó hoàn thiện hơn được”. Cũng phải thôi, vì khó có thể hoàn thiện hơn một kiệt tác được!

Album này gây ấn tượng bởi những bài hát riêng lẻ hơn là cả album. Không ai nghe Megadeth mà không biết đến A tout le monde buồn đến nao lòng: So as you read this know my friends

I'd love to stay with you all
Please smile when you think of me
My body's gone that's all
A tout le monde/To all the world
A tout mes amis/To all my friends
Je vous aime/I love you
Je dois partir/I have-to/must leave

Hay bản tình ca ca ngợi gia đình “Family Tree” như nền tảng vững chắc cho chúng ta thêm cứng cáp khi trưởng thành cũng như luôn giang rộng đôi tay khi chúng ta khiếp sợ chạy về sau khi biết xã hội rộng lớn kia hoang dã như thế nào?

I know they were doing it to you
But don't try doing it to me
Let me show you, how I love you
It's our secret, you and me
But keep it in the family tree
The secret of the family tree

Hay đoạn solo bass mẫu mực và ý nghĩa nhân văn cao đẹp trong Youthanasia, còn gì phải nói nữa đây về album này, tất cả mọi lời tán tụng xin hãy cho nó ngủ yêu trong cổ họng, việc phải làm của chúng ta bây giờ chỉ là ngồi xuống và hãy để cho con tim ta nóng lên, cái đầu phản chủ lắc điên cuồng trong những giai điệu của album

VietrocK
12-02-2002, 03:59 PM
Crytic Writings -1997

http://www.discover.de/kritiken/img/cover/Megadeth.jpg

Sau 2 năm nghỉ ngơi, Megadeth tung tiếp ra album thứ 7 của band mang tên: Crytic Writings (album thứ 6 là Hidden Treasure gồm 1 số bản soundtrack và cover lại 1 bản của Sex Pistols là "Problems") Trong khoảng thời gian nghỉ ngơi dài đó, Dave đã kịp làm khá nhiều việc, vẫn là những tour lưu diễn mang về cả khán giả và tiền bạc, vẫn là những bản họp đồng thu đĩa béo bở, nhưng thành công nhất của Dave là tiếp tục sản xuất ra một anh chàng kháu khỉnh nữa mang tên Roman Alexander.



Trở lại với âm nhạc, album này là kết quả của một quá trình tìm hiểu thị hiếu âm nhạc trong đại bộ phận các fan hâm mộ nhằm ra các album mang tính chất phù hợp hơn với yêu cầu của quần chúng. Xin các bạn đừng vội cho rằng đây là sự mất chất hay thế nào đó của Megadeth nhằm mang lại hiệu quả cao nhất cho túi tiền của họ, trước khi đánh giá, mong các bạn hãy nghe qua album này đã !!! Một điều khác khá thú vị mà ai trong chúng ta nếu đã từng chơi Mortal Kombat (Play Station) thì hãy chú ý nghe qua một chút đoạn nhạc làm nền của nó, nhất là trong phiên bản 3, sẽ nhận ngay ra một giai điệu quen thuộc, đó chính là bản remix của Almost Honest trong album này.



Ta có cảm giác như album này là phiên bản lặp lại của một Youthanasia. Nhưng dưới một hình thức hoàn toàn khác, nếu như album trước được vẽ nên bằng những sắc màu khá là sắc nét và mang nhiều yếu tố hơi mang tầm vóc lớn với sự nổi bật của từng bài hát thì album này cũng là sự độc diễn của những single mà trong đó rất nhiều bài có những nội dung khá là thú vị. Mỗi bài hát trong album như một chủ thể độc lập đứng riêng rẽ nhưng thật sự là có cái gì đó liên kết chúng lại, hay đó chính là tên album này.

Thật vậy, ngay từ bài hát đầu tiên, ấn tượng mà nó tạo cho ta là hết sức rõ rệt. ”Trust” ngạo nghễ đứng một mình mà chỉ vào chính mình: Ta chính là sự tin tưởng đây! Nhưng hình như cái lyric trong này lại chỉ cho chúng ta rằng: thật ra đấy chỉ là những lời dối gian mà thôi :

How could this be happening to me
I'm lying when I say, "Trust me"
I can't believe this is true
Trust hurts
Why does trust equal suffering
Absolutely nothing we trust

Sau đấy là một loạt những bài hát khác với những ngôn từ khá là ấn tượng như: "Almost Honest”,”Use the man" và đặc biệt là "Mastermind" về chất nhạc trong album này vì chắc hẳn so với trong những album đã qua thì album này chỉ là một bản sao nhạt nhoà của các album khác, nó không có vẻ dữ dội như Rust In Peace, không có vẻ đẹp khá là hoàn thiện như Yothanasia, không có vẻ chất phác quê mùa như Countdown of Extinction, mà thật sự ấn tượng để lại về chất nhạc trong album này chỉ là đoạn solo đẹp đến mê hồn trong tuyệt phẩm She-Wolf.

http://www.nyrock.com/imgs99b/megadeth1a.jpg

Capitol punishment - 2000


http://www.vh1.com/shared/media/images/covers/170/390/391915.jpg

Năm 1999, họ tiếp tục hoàn thiện nốt các thủ tục nhằm biến đĩa Crytic Writing thành cối xay tiền như lưu diễn khắp nơi và đặc biệt là lưu diễn cùng Ion Maiden trong tour diễn nổi tiếng nhất năm 1999 này, họ tung ra đĩa Risk vào 31-8-1999 nhưng không được đánh giá cao cho lắm chỉ có vài bản như Crush 'Em, Prince of Darkness, Insomnia là tương đối!


Megadeth và chuyến lưu diễn với Iron Maiden

Năm 2000, một tổn thất rất lớn với Megadeth đã đến khi tay lead kỳ cựu Marty Freidman chính thức rời nhóm và chúng ta sẽ không bao giờ còn được thấy cặp lead đôi lừng danh của Megadeth nữa mà thay vào đó bằng một tên tuổi lạ hoắc Al Pitreli. Cùng lúc đó, Megadeth cũng rời hãng ghi âm Capitol Record và chuyển sang kí hợp đồng với hãng ghi âm Sanctuary Records. Họ tung ra album tổng hợp Capitol Punisment, album này là tuyển tập những ca khúc xuất sắc của Megadeth trong hơn một thập kỉ vàng son như các bài: Crush 'Em, Use the Man, Almost Honest, Trust, A Tout le Monde, Train of Consequences, Sweating Bullets, Symphony of Destruction, Hangar 18, Holy Wars...The Punishment Due, In My Darkest Hour, Peace Sells và có bổ sung thêm vào hai ca khúc rất hay là : Kill the King (ca khúc này đã trở thành ca khúc được yêu cầu nhiều nhất trên các rockradio trên toàn thế giới) và Dread & The Fugitive Mind. Là mốc son chói lọi đánh dấu một chặng đường vinh quang rực rỡ của ban nhạc, và cũng để chúng ta ghi nhận những gì Megadeth đã đạt được. Chúc mừng Megadeh vì thành công này.

World need a hero - 2001

Có rất nhiều điều để nói về album cuối cùng này của Megadeth, nhưng trước hết, liếc qua cái hoàn cảnh xuất sứ của nó cái đã nhỉ? Quả thật là có rất nhiều điều đã xảy ra trong khong thời gian này, Đầu tiên phải kể đến sự ra đi của Nick Menza sau nhiều năm cống hiến cho Megadeth và người thay thế anh làm chủ dàn trống là Jimmy Degrasso, sau đó 2 thành viên trong ban nhạc thay nhau làm cha, người đầu tiên là…Dave Mustaine và người bố thứ 2 là tay bass Elffeson với cô con gái mang cái tên hết sức dễ thương: Athena.


Chuyến lưu diễn năm 2001 để quảng bá cho album

Ai cũng biết rằng đây là album cuối cùng của Megadeth trước lúc họ tan rã khi một ngày buồn thảm, ngày mà Dave Mustaine nhận ra rằng tay trái của anh không thể điều khiển được như xưa nữa, đó cũng là ngày mà anh giải tán nhóm nhạc tuyệt vời này! Nhưng thôi, những lời đau buồn hãy để sau, hãy nói về cái album mà họ đã trút hết tâm huyết vào đã. World need a hero thật sự là album rất rất buồn. Lối chơi của họ không hề thiếu đi chất lửa, không hề mất đi chất dữ dằn cục cằn của dòng Thrash nhưng chúng ta vẫn thấy nó buồn ? Phải chăng, đấy là ảnh hưởng của bài tuyệt tình ca hay nhất của Megadeth kể từ thời A tout le monde trong Yothanasía

Goodbye 1000 times goodbye
The thought never crossed my mind
That this would be my last goodbye
Let me put pennies on your eyes
And kiss your lips one last goodbye
My love 1000 times goodbye
-1000 times goodbye-

Đây thật sự là bài hát có giai điệu và tâm trạng não nề nhất của Megadeth mà tôi từng được nghe, hãy thử nghe bài này trong một buổi chiều buồn thảm, biết đâu, tôi với bạn lại là những người đồng cảm. Bài hát như một định mệnh báo trước một dự cảm không hay đối với ban nhạc và dự cảm đó còn rõ nét hơn nữa rất nhiều trong Promises:

And when we walk down the street
The wind sings our name in rebel songs
The sounds of the night should make us anxious
But it's much to late when the fear is gone
I will meet you in the Next Life, I promise you
Where we can be together, I promise you
I will wait till then in Heaven, I promise you
I promise, I promise

Chúa ơi, chưa bao giờ giọng của Dave lại buồn như thế và cũng chưa bao giờ, tôi lại có cảm giác buồn như thế khi nghe một bài của Megadeth . “Tôi sẽ đợi bạn tại thế giới bên kia, tôi hứa với bạn…” hứa hẹn để làm gì một khi xa nhau mãi mãi đây ?

Tuy nhiên, đấy chỉ là phần chìm của album mà chưa hẳn đã là tư tưởng chủ đạo của cả album, trong đĩa này còn rất nhiều những bài mà tài năng của tay trống mới đã được thể hiện và đánh giá rất cao, điển hình là đoạn solo trống long trời lở đất trong Dread and the Fugitive mind, mấy ai quên được đoạn solo này nếu họ nghe đĩa, bên cạnh đó mốc son đáng chú ý là bài hát trả lời lại “Hangar 18”, đó là bài “ Return To Hangar” với phần lời sửa đi đôi chút của Hangar18 , dù không thể hay bằng bởi Hangar18 là một biểu tượng mẫu mực của Megadeth , nhưng là một chương tiếp nối tương xứng, tôi có cảm tưởng như họ đang cố tìm lại những ngày tháng vàng son cũ, với những niềm hy vọng không nguôi: The World need a hero, and I’m the Hero !!! Cũng không thể không nhắc đến bài hát cuối cùng của Megadeth: WHEN Khi nào đây??? Câu hỏi này chắc không thể trả lời nổi, chỉ có chúng ta, những rockfan trung thành của Megadeth mới có thể hét to lên rằng:

http://www.digitalmetal.com/graphics/megadethcontest.jpg

VietrocK
12-02-2002, 04:07 PM
[scroll:8d4c964f48][shadow=blue:8d4c964f48][glow=red:8d4c964f48]Aeosmith[/glow:8d4c964f48][/shadow:8d4c964f48][/scroll:8d4c964f48]

http://www.rocknworld.com/legends/aerosmith/aero_logo1.gif

Sơ lược về Aerosmith: (không dám post nhiều nữa, sợ Chopin nó kiu xỉu nữa thì ai đỡ) Aerosmith Thành lập năm 1970 bởi 4 chàng trai gốc Boston, đáng chú ý nhất là ca sĩ kì cựu (lúc đầu còn kiêm cả chơi trống) Steven Tyler (ông này có cô công chúa tuyệt đẹp Liz Tayler hút mất hồn mấy tay rockfan của forum nhà mình) và tay guitar lừng danh Joe Perry. Hai ông cụ này cũng gắn bó với nhau không khác gì Mick Jagger và Keith Richards của Rolling Stones vậy.


Riêng về lối chơi chủ yếu phát triển dựa trên các điệu nhảy boogie thiên về các cú riff rời rạc, nhún nhảy, nhưng thật đanh thép, có sức thu hút kì lạ. Âm nhạc của Aerosmith nói một cách bóng bẩy là những giai điệu mạnh mẽ linh hoạt nhờ những âm thanh của 2 cây guitar lúc vần vũ lúc cuộn xoáy điệu nghệ quanh giọng ca "thánh thót" cao vút rất đặc trưng của Tyler. (cái ông cụ này hình như càng già hát càng gân hay sao đấy, khi hè năm nay ban nhạc lão thành này tung ra một bài hit là Girls of Summer và thắng lớn)


http://www.johnkalodner.com/aerosmith.jpg

Về đạo đức lối sống ban nhạc đã nhiều lần lún sâu vào ma tuý, nhiều khi không kịp chờ chơi xong bài hát đã phải lẩn vào sau cánh gà để cho qua cơn ghiền. Đó là những giờ phút đi xuống của Aero, thậm chí tay guitar trụ cột Joe Perry đã 1 lần rời bỏ ban nhạc trước khi quay lại. Tuy nhiên do sự đền đáp yêu mến các fan hâm mộ cả ban nhạc quyết tâm từ bỏ ma tuý để làm lại từ đầu, về điểm này tôi rất khâm phục Aerosmith. Để đạt được như vậy, Tyler đã phải trải qua 4 chương trình cai nghiện khác nhau còn Joe Perry thậm chí đã tìm cách thay hòan toàn máu trong người mình (chúng ta có thể thấy ban nhạc đã quyết tâm như thế nào, và họ đã trở lại thành công khi tung ra album Just Push Play vào năm ngoái).

Aerosmith có rất nhiều bài rất hay cho bạn nghe như: Crazy, Amazing, Dream On, Walk This Way, Come Together, Love in an Elevator, Livin' on the edge, Janie's got a gun, Cryin' , I don't want to miss a thing, Hole In soul, Fly away from here (đã từng lọt vào topten MTV châu Á), Jaded....Riêng các album của Aerosmith thì bạn có thể dễ dàng tìm thấy trong các tiệm đĩa.

http://www.iconsofindustry.org/touristguy/page7/aerosmith.jpg

VietrocK
12-02-2002, 04:15 PM
[glow=yellow:c5c34035b9][scroll:c5c34035b9]- Skidrow - [/scroll:c5c34035b9][/glow:c5c34035b9]

Skidrow là nhóm Hardrock của Hoa kì và được thành lập năm 1986 bởi tay bassist Rachel Bolan và tay guitarist Dave "the Snake" Sabo. Nhưng cả 5 chàng trai đến đến từ 5 thành phố khác nhau:
- Volcalist: John Sebastian Bach đến từ Bahamas.
- Guitar: Dave snake Dabo từ New Jersey.
- Solo lead: Scotti Hill đến từ Long Island, New York.
- Bass: Rachel Boland
- Trống: Rob Affuso

http://www.skidrow.net/web/pics/old1.jpg

Có thể nói Skidrow không "may mắn" lắm vì thời điểm ra đời của ban nhạc cũng là lúc mà thể loại Heavy metal, Hardrock đánh gục tất cả các thể loại khác, ngạo nghễ giành lấy ngôi vị bá chủ trong thế giới âm nhạc. "Mầm non" như Skid muốn tồn tại chứ đừng nói đến nổi tiếng đã là rất khó khăn. Giống như điểm khởi đầu của Pantera, Helloween...Ban đầu, ban nhạc thường phải chơi mở màn trong các chương trình cho các nhóm đàn anh như: Judas priest, Kiss hoặc ở các chương trình phụ. Sau khoảng 2 năm lăn lóc tu luyện, họ đã gây được một chút ấn tượng với hăng ghi âm Atlantic . Sau khi nhận được sự đầu tư của hãng đĩa này,nhóm đã chuyên tâm vào sáng tác và đến đầu năm 1989 đã tung ra album đầu tay "Skidrow". Album như một quả đại bác bắn vào tai người hâm mộ, khiến họ như phát điên, số lượng fan hâm mộ skidrow tăng theo cấp số nhân và phủ đều trên bề mặt địa cầu tử Anh, Mỹ đến những vùng sâu vùng xa như: Mehico, Brazil, Nhật bản...và cả Việt Nam nữa

http://image.allmusic.com/00/amg/cov200/drc300/c308/c3081734953.jpg

Skidrow là một album rất hay, rất đặc trưng cho phong cách của skidrow bởi những bài hát có giai điệu, tiết tấu rất mạch lạc, các âm giai chát chúa tưởng như đối lập lại kết hợp nhuần nhuyễn với cảm xúc ngẫu hứng. Rất nhiều ca khúc trong album để lại dấu ấn sâu đậm trong tim người hâm mộ như : Piece of me, big guns, Youth gone wild. Nhưng tuyệt vời nhất là bản tình ca I remember you và bài hát lên án chế độ xã hội Mỹ: 18 & life.

Tên tuổi của Skidrow dần được khẳng định khi tham gia lễ hội Rock vì hoà bình ở Nga cùng với các nhóm như Ozzy, Bon Jovi, Motley Crue... Nhưng nó chợt chói sáng khi nhóm tung ra album mang tên: Slave to the Grind - 1992. Hai năm 1991, 1992 có thể coi là 2 năm cực thịnh của Heavy metal và Hardrock khi một loạt các album cực hay ra đời như : Nevermind, Fear of the dark, Triump of steel, Metallica91, Use your Illusion 1&2 và Slave to the Grind cũng đứng trong hàng ngũ các album đó !!!

Album này thật sự rất rất tuyệt vời với tất cả tâm huyết của cả ban nhạc. Chất nhạc chơi khá nặng, nơi mà những bản ballad dữ dội phát huy được hết cảm xúc . Những bài hát trong album đều nói về những chủ đề rất đáng suy nghĩ và có giai điệu mạch lạc cùng âm hưởng gần như xuyên suốt toàn album. Tên tuổi của Skidrow như được "Chiếc cần cẩu" Slave to the Grind nhấc lên ngang hàng với các nhóm Hardrock khác. Giờ đây Skidrow không thể từ chối lời mời lưu diễn ở Nhật, nơi có hàng vạn nữ sinh sẵn sàng bỏ học để ngắm thần tượng Sebastian Bach của họ. Những bài hát đậm tình cảm với giai điệu bốc lửa còn làm các cô gái bên kia bán cầu điên đảo.

Nếu như các ban nhạc khác đều sở hữu một tay ghita vào hàng đại thụ thì tài sản qúy giá nhất của Skidrow là ca sĩ John Sebastian Bach. Với giọng hát có âm vực cực lớn, âm thanh trong suốt. Anh đã vượt rất xa thần tượng Robert Plan của mình về về âm vực nhưng giọng hát của anh có thể đổ xuống rất thấp tăng thêm phần kịch tính cho những bản ballad dữ dội của mình. Nhưng thật tiếc có một thưc tế không thể phủ nhận là Skidrow không có sức sáng tạo vô tận như AC-DC hay Iron Maiden ..... Năm 1993 album B-Side our Selves ra đời nhằm thoả mãn mong muốn của người hâm mộ nhưng kết quả là sự thất vọng hoàn toàn! Cố gắng hơn nữa SKidrow tung ra album Subhuman Race 1995 nhằm cứu vớt chút danh dự và người hâm mộ nhưng chính album này là con dao đã giết chết chút cảm tình cuối cùng của những người hâm mộ.

Vì quá thất vọng với album này Sebastian Bach đã rời nhóm, ngoài ra Sebastian Bach bỏ nhóm còn vì bất đồng về quan điểm sáng tác với Dave Sabo. Sau đó anh có tham gia nhóm The Last Hard Men với tay trống cũ của Smashing Pumpkins là Jimmy Chamberlin, nhưng ban này chỉ có mỗi ca khúc "School's Out" hát lại của Alice Cooper là đáng chú ý (Có thể nghe ca khúc này trong album soundtrack của bộ phim "Scream 2"). Nhóm này cũng tan rất nhanh và sau đó có thời kỳ Sebastian đã tham gia diễn nhạc kịch ở Broadway, sau đó anh có tham gia trong một thời gian rất ngắn trong band - Breeder và Kelley Deal thì anh chuyển qua hát solo vào năm 97, hai năm sau album "album Bring 'Em Bach Alive" ra đời...

Những thành viên còn lại :
- Rachel Bolan: bassist
- Scott Hill: keyboard
- Rob Affuso: drummer
- Dave "The Snake" Sabo: guitarist
- Johnny Solinger: là người thay thế Sabestian Bach.

Nhóm còn lại này ra album Forty Seasons - 1998 (mình chưa có dịp nghe album này nên không biết các thành viên mới làm ăn ra sao, ai mà có cơ hội nghe rồi thì cho mình mượn với )

http://www.erienet.net/~diamond/images/skidrow/skidrow1A.jpg

VietrocK
12-02-2002, 04:29 PM
[glow=cyan:b3fd0b7cd2][scroll:b3fd0b7cd2][u][b]Dành cho những ai yêu thích Slash cũng như Guns n' Roses [/b][/u][/scroll:b3fd0b7cd2][/glow:b3fd0b7cd2]

Slash sinh ngày 23 tháng 7 nam 1965 tại Hamstead (London), Anh. Tên thật là Saul Hudson, cái tên Slash là một biệt danh từ nhỏ do một gia đình nguời bạn đặt cho anh. Mẹ của Slash là một nguời Mỹ da đen, cả cha mẹ dều là nguời thiết kế trang phục biểu diển cho một số nghệ sĩ Anh quốc lúc bấy giờ (có thể kể dến George Harrison, ex-guitarist của The Beatle, cung dồng thời là ex-mortal , Neil Young và Joni Michell).

Năm 11 tuổi, Slash chuyển dến sống ở Los Angeles, Mỹ, cũng chính nơi dây Slash có dịp tiếp xúc nhiều hơn với các nghệ sĩ lớn nhu: David Bowie, Ron Wood, David Geffen, Joni Michell, Iggy Pop. Cuộc sống của Slash cung không nhu những dứa trẻ khác: áo T-shirt và quần jean rách ruới, mái tóc dài che mất khuôn mặt...

http://www.glampunk.org/guns/slash1_jpg.jpg

Giữa những năm 70, cha mẹ của Slash li dị, anh về sống với bà ngoại. Năm 15 tuổi, Slash lần dầu tiên chạm tay dến cây dàn guitar do bà anh cho, thật dáng tiếc, cây dàn này chỉ là một cây accoustic và chỉ có 1 dây duy nhất ! ( chứ không phải là cây Gibson Lespaul 6000 $ như cái chúng ta vẫn thuờng thấy lúc bây giờ đâu) và Slash cung tự mò mẫm học dàn... Cũng nhu mọi thanh niên lúc bấy giờ, thần tuợng của Slash chẳng phải là Bill Gates , John Wayne, mà là Jimi Hendrix, Eric Clapton, Aerosmith ... và người hùng của Slash: Jeff Beck. Slash cung nói rằng album "Rock" của Aerosmith dã thay dổi cuộc dời của Slash: anh dành 12 tiếng trong ngày dể choi guitar vì vậy việc học hành chẳng còn phải là chuyện quan trọng, Slash thuờng xuyên nghỉ học và bỏ học nam lớp 11 dể tham gia các ban nhạc. Anh tham gia mọi ban nhạc chơi ở các quán bar trong vùng, gặp duợc nguời bạn thân là tay trống Steve Adler. Hai nguời lập ra nhóm Road Crew và tìm một ca sĩ giỏi. Rồi anh gặp Izzy Stradlin, bấy giờ chơi chung ban nhạc với Axl Rose , Slash tìm dến Axl và có ý dịnh "chụp" lấy Axl ra khỏi tay Izzy... nhung cuối cùng Slash và Adler gia nhập nhóm với Izzy và Axl. Họ tìm thấy Micheal "Duff" McKagan khi anh này trả lời mục đăng tin của nhóm trên báo, Guns n' Roses ra dời.

Trong ban nhạc, có lẽ Slash là nguời có tiếng nói và duợc kính trọng hon cả, mặc dù ta chẳng bao giờ thấy anh này mở miệng ... cung dúng, bận hút thuốc rồi. Slash dặc biệt thân thiết với Duff. Trên sàn diễn, Slash và Duff luôn xuất hiện chung với những câu interlude giữa buổi diễn. Ðối với Axl, Slash nhu một nguời anh trai, khi GNR tan rã, Slash luôn từ chối những câu hỏi của báo chí về những việc lộn xộn của Axl.

http://ktrm.truman.edu/RetroPlayhouse/GNR.jpg

Sau album "Spaghetti incident?", GNR tan rã, Slash thành lập ban nhạc Blues Ball chuyên cover lại các bài hát blues của các bậc dàn anh, ban nhạc này chua bao giờ ra dia cung nhu biểu diễn các show lớn...dến nam 1995, Slash cảm thấy phải thực hiện một ban nhạc thực sự của riêng mình, Slash’s Snakepit ra dời ( với Matt Sorum trống, Gilby Clak guitar, Mike Inez bass, Eric Dover hát), nhóm thâu dia " It’s five o’clock somewhere". Sau dó mọi thành viên dều có dự dịnh riêng với ban nhạc riêng của họ, Snakepit có sự thay dổi lớn với Matt Laug trống, Johny Griparic bass, Jeri Kelly guitar và Rod Jackson hát ( di nhiên là có Slash choi guitar!! Ðừng có ngớ nguời ra nhu thế!!) Album thứ hai của nhóm ra dời là "Ain’t life grand"... tuy nhiên những ai mong đợi đây là một album với phong cách giống với Appetite của GNR sẽ thất vọng vì Slash chơi với một phong cách hòan toàn khác, nhưng nguợc lại, những ai thích Led Zeppelin , hay Jimi Hendrix,hay nhạc rock những năm 80, bạn sẽ thích Snakepit. Album chơi khá ồn ào , tuy nhiên ở album dầu, Eric Dover có giọng hát không phù hợp lắm với tiếng dàn của Slash nên nghe có phần chói tai... nhung cung là một album đáng nghe.

15 tháng 10 năm 2001, Slash dã dám cuới với Perla, sau khi li dị với nguời vợ cũ vào năm 1995. Perla dã từng xuất hiện trong clip "Sweet child o’mine" của GNR, hai nguời cĩng dã là bạn lâu năm với nhau. Chúc mừng Slash!!

Sau GNR, Slash liên tục có những buổi biểu diễn hợp tác với các ca si lớn nhu Micheal Jackson trong tour diễn mới dây của ông vua nhạc pop dể tự tuởng niệm mình (Slash chơi quá máu nên đợi bị đuổi mới chịu xuống sân khấu, he..he..), Bryan May (guitarist của Queen) trong album Ressuration ( bài "Tie your mother down") , với nhiều nghệ si trong làng nhạc rock trong album tuởng niệm Jimi Hendrix hay Alice Cooper, Paul Roodger, hay với nguời bạn cũ, "một khẩu súng trong GNR", là Duff McKagan.



http://www.posternow.com/g/g3404.jpg


Vào khoảng giữa những năm 80, tình hình nhạc rock ở Mỹ đã bắt đầu nhàm chán, chẳng có tí gì làm cho mọi người vui sướng, người ta nói metal đang ngoắc ngoải trên giường bệnh. Và trong bối cảnh ấy người hùng của Pop Metal nhảy vào vòng chiến, sự sống động lôi cuốn của ban nhạc nhờ vào những nỗ lực của tay guitar Slash, và giọng hát cùng những tiếng la hét điên cuồng của Axl Rose. Có thể nói ở đâu có Guns n' Roses là nơi đó không có sự yên tĩnh.

Guns n' Roses thành lập năm 1985 tại Los Angeles bởi Axl Rose và Izzy Stradlin, lúc này thành phần anh hào gồm Axl Rose, Micheal McKagan, Rob Gardner, Traci Guns, Izzy Stradlin. Sau đó Saul Hudson (Slash) và Steve Adler vào thay cho Guns và Gardner.



Năm 1987, Guns n' Roses cho ra đời 1 album nhạc đầu tay, lấy tên là Appetie For Destruction đạt thành công ngay lập tức và đã bán được 16 triệu bản. Đây chính là album đã kích động được lại cả 1 quang cảnh nguội ngắt của làng nhạc rock. Album Appetite đầy tràn những giai điệu có chủ đề về thành thị ("Paradise City" hay "Welcome to the Jungle"), được thâu đĩa ở Los Angeles, nơi mà cả ban nhạc đang sống ngoài trời, trên một toa xe mướn, trong chuyến lưu diễn của họ. Và vừa kiếm sống, họ vừa viết nhạc, thâu đĩa luôn. Thành công lớn, album đã lọt vào bảng xếp hạng và leo lên vị trí số một với tác phẩm tiêu biểu "Sweet Child Of Mine". Đây là thời gian ban nhạc kiếm được nhiều tiền nhất, chúng ta có thể so sánh họ như là kẻ kế vị của Rolling Stones.


http://heavyharmonies.com/cdcovers/G/GUNS1.JPG

Sự ra đi của Steven Adler không phải là một cú shock bất ngờ, trước đây, Axl đã từng tuyên bố trong một buổi Live rằng :"nếu các thành viên khác trong ban nhạc không ngừng nhảy múa với nàng tiên nâu thì tôi sẽ rời nhóm", Slash, Duff đã cai, nhưng Adler vẫn tiếp tục, chuyện gì đến phải đến, Adler khăn gói lên đường.

Slash nói "chúng tôi không còn cách nào khác, tôi (Slash là một người bạn rất thân của Adler, họ từng cùng nhau chơi chung trong "Road Crew") đã động viên hết lời, có hôm tôi đã bỏ ra hết nhiều giờ qua điện thoại động viên Adler, nhưng anh ta vẫn tiềp tục, chúng tôi không thể vì anh ta mà chờ mãi, ban nhạc phải tiếp tục hoạt động". Use your Illusion nhảy ngay lên vị trí thứ nhất Billboard ngay ngày đầu tiên. Không như Appetie For Destruction chỉ nhắm vào Hard Rock, album này rất đa dạng về phong cách, các bản Ballad kinh điển như "Don't Cry", "November Rain", "Yesterdays" đến Punk Rock như "Get in the Ring", nhưng đa số các bài sẽ giúp ta tìm lại được Guns n' Roses ngày xưa nhưng được trau chuốt hơn : "Garden of Eden", "Back Off Bitch", "Shotgun Blues", "You could be mine"...hay một số bài hát "tâm trạng" hơn như "Civil War", "So fine", "Estranged". Cũng trong thời gian phát hành Album, Steven Adler gửi đơn kiện Guns n' Roses vì là "Nguyên nhân chính gây đến sự nghiện ngập của Adler" (Adler thắng kiện 2,5 triệu Dollars !!!).

http://www.artistwd.com/joyzine/music/gnr/gnr_stage.jpg

Trước tour "Use your Illusion world tour", Izzy Stradlin (Jeff Isbell) ra khỏi nhóm, có nhiều lý do nhưng lý do chính vẫn là nghiện ngập và nữa là như Izzy nói "làm việc quá nặng trong khi thực hiện Use your Illusion", Guns n' Roses mất đi người viết nhạc chính của nhóm (Một vải người cho rằng Axl viết nhạc cho nhóm, nhưng thật sự Izzy mới là người viết nhạc chính). Izzy được thay thế bởi Gilby Clark (đến từ Kill for Trhills) trong thời gian World Tour.

Sau khoảng thời gian World Tour cùng một số scandal linh tinh khác như Axl vô tù, Slash đóng tiền phạt vì đánh vợ... Nhóm tiếp tục cho ra album mới "Spaghetti Incident", một album punk cover lại các ca khúc cũ của các ban nhạc khác như Skyliners ("Since i don't have you"), The Misfits ("Attitude"), Nazareth ("Hair of the Dog") .... Album không mấy thành công và báo hiệu sự tàn lụi của nhóm.



Sau Album, Gilby Clark là người đầu tiên "rời" nhóm, anh nói : "một hôm, Axl gọi điện cho tôi và nói rằng "hey, tao có viết một đống thứ mới, nhưng tao không nghĩ rằng cách chơi nhạc của mày hiện nay sẽ thích hợp", tôi không phải bị đuổi, tôi chỉ đơn giản "rời" nhóm".

Một thời gian sau, Axl tuyên bố sẽ chuyển ban nhạc sang hướng Industrial nhiều hơn, Slash muốn tiếp tục hướng cũ (Hard Rock) và thế là Slash bỏ đi, sang chơi Solo. Tiếp theo đó là Duff, Matt Sorum rời Guns n' Roses. Guns n' n Roses không tan rã vì Axl đã mua bản quyền tên ban nhạc, anh vẫn tiếp tục, cùng Dizzy Reed, hoạt động dưới cái tên Guns n' Roses. Thành viên hiện nay gồm W. Axl Rose , Dizzy Reed , Tommy Stinson (bass), Buckethead (guitar) , Robin Finck (guitar), Richard Fortus (guitar), Brain (drums), Chris Pitman (keyboards), Paul Tobias (guitar). Vừa qua nhóm đã có 1 tour diễn quanh châu Á ở Hongkong ngày 14-8, tại Nhật ngày 17-18 (tại sân vận động Chiba Marine Tokyo, và WTC Open-air Stadium Osaka), từ ngày 24-26 nhóm lưu diễn vòng quanh châu Âu (tại 2 thành phố Leed và London (Anh) và Pukkelpop Festival tại Bỉ)

Duff lập Loaded, nhóm chơi Punk... Mỗi thành viên một ngã, kết thúc sự tồn tại của ban nhạc "ồn ào nhât, quái đản nhất, quậy nhất, đồng thời cũng tuyệt vời nhất cuối thập niên '80".


http://showcase.netins.net/web/derekspage/gnr/gnr2.jpg

VietrocK
12-02-2002, 04:54 PM
http://www.dreamtheater.net/6doit/dreamtheater.gif

Sự ra đời của DREAM THEATER :
Một ngày cuối thu năm 1985 hai chàng sinh viên John Petrucci (khoa guitar) và John Myung (khoa contrebass) tình cờ đi vào một trong những phòng tập của Nhạc viện Berklee (Boston) nơi họ đang theo học; tại đó họ được chứng kiến tay trống Mike Portnoy đang ứng tấu ngẫu hứng một đoạn solo long trời lở đất. Hai chàng John sau đó lại đụng đầu Mike trong quán ăn tự phục vụ và thấy rằng họ có nhiều điểm chung hơn ngoài sở thích về âm nhạc: tất cả đều là dân gốc Long Island - New York. Và ý tưởng thành lập ban nhạc đã ra đời.

Trong những giờ giải lao ở trường họ thường chơi nhạc với tay keyboard Kevin Moore (người đã từng chơi với hai chàng John trong một ban nhạc có tên Centurion và đang theo học tại trường ĐH Fredonia lúc đó) và một ca sỹ có tên Chris Collin. Ban nhạc được đặt tên là Majesty và sau đó tất cả thành viên đều bỏ học để tập trung vào ban nhạc trong lúc vẫn phải đi làm ngoài giờ để kiếm tiền. Không lâu sau đó họ ghi âm một băng demo gồm sáu ca khúc và gửi đến cho các hãng thu âm. Ngay từ lúc đó, chất liệu nhạc của họ đã tỏ ra cấp tiến và phức tạp gợi lại một cách sâu sắc nhạc của những nhóm Progressive lừng danh như Rush,Yes. Majesty sau đó đã ký được hợp đồng với hãng đĩa Mechanic Records với điều kiện phải đổi tên vì lúc đó đã có một ban nhạc jazz tên là Majesty. Cha của Mike đề xuất cái tên Dream Theater lấy từ một rạp chiếu phim ở Monterey, California và từ đó lịch sử nhạc rock thế giới ghi nhận sự ra đời của một nhóm Progressive Metal tiên phong...

Các thành viên chủ lực của DREAM THEATER :
- John Petrucci: guitars sinh ngày 12/7/1967 và được nuôi nấng trong một gia đình có truyền thống âm nhạc tại Long Island (NY). Trong khi cô chị gái là người góp phần khiến John say mê âm nhạc thì lý do để anh cầm lấy cây guitar là bởi vì tất cả tụi trẻ hàng xóm đều chơi được và nhìn thật vui. John bắt đầu học guitar từ năm 12 tuổi và những tay guitar mà anh ngưỡng mộ gồm có Steve Vai, Al DiMeola , Alex Lifeson ( nhóm Rush ), Steve Howe, Alan Holdsworth và Stevie Ray Vaughan. Giờ đây John được thừa nhận là một trong những tay guitar xuất sắc nhất thế giới, anh đang đảm trách một chuyên mục thường xuyên cho tạp chí Guitar World Magazine và là tác giả của nhiều cuốn video dạy guitar. Website riêng của John: www.johnpetrucci.com.

http://www.dreamtheater.net/pics/wdadujp.jpg

- John Myung: bass người gốc Hàn Quốc, sinh ngày 24/1/1967 ở Chicago nhưng chuyển đến Long Island từ khi còn nhỏ. Mẹ John hay nghe nhạc cổ điển và đến năm 5 tuổi đã cho anh tập vĩ cầm. Khi John 15 tuổi anh bắt đầu gắn bó với cây bass khi một người hàng xóm gạ anh chơi bass cho ban nhạc của ông ta. Kể từ đó John không bao giờ sờ đến violin nữa Thần tượng của John bao gồm các tay bass Chris Squire (nhóm Rush), Geddy Lee (nhóm Yes) và Steve Harris (Iron Maiden). John thích nghe nhạc cổ điển, nhạc blues và cũng rất yêu thích các nhóm alternative như Jane's Addiction, Red Hot Chilli Peppers, King's X. Website riêng của Myung : www.johnmyung.com.

http://www.dreamtheater.net/pics/wdadujm.jpg

- Mike Portnoy: tay trống sinh ngày 20/4/1967 tại Long Island-NY. Cha của Mike là một DJ vì thế từ bé anh đã được nuôi dạy trong môi trường rock 'n roll và có một bộ sưu tập đĩa khổng lồ. Những thần tượng đầu tiên của Mike là The Beatles và Kiss và từ lúc dó anh đã quyết tâm trở thành một nhạc sỹ. Mike vừa theo học nhạc tại trường vừa tự học trống và trong thời gian đó anh đã chơi cho một số ban nhạc như Intruder, Rising Power và Inner Sanctum. Mike là người giữ trong tay tất cả những gì có liên quan đến ban nhạc : các đĩa hát "chợ đen", poster, các bài báo,...và quan trọng nhất là các băng video, DAT đầy ắp chất liệu mới của ban nhạc (đây là "nguồn" cho các album). Mike nói rằng những tay trống có ảnh hưởng đến lối chơi của anh bao gồm: Neil Peart (Rush, Frank Zappa); Terry Bozzio, Vinnie Colaiuta, Simon Philips, John Bonham (Led Zeppelin), Keith Moon (The Who). Mike thích nghe nhạc của Beatles, Queen, Yes, Iron Maiden, U2, Jane's Addiction và...Metallica. Mike còn là một tay boxer có "nghề". Website riêng của Mike : www.mikeportnoy.com.

http://www.dreamtheater.net/pics/wdadump.jpg

- James Larie: ca sỹ sinh ngày 5/5/1963 tại Penetanguishene, một thị trấn nhỏ ở Ontario, Canada. Năm lên ba tuổi, anh đã đi thơ thẩn quanh nhà và hát tất cả những bài hát nào nghe được trên radio ( tất nhiên là hát sai lời vì đã biết chữ đâu nhưng giai điệu thì rất chuẩn ). Lên 5 tuổi được cha mẹ khuyến khích anh bắt đầu tập trống vì nếu không có trống thì có ngày anh sẽ gõ sập cả nhà với bất cứ thứ gì anh vớ được ! Năm 10 tuổi James biểu diễn cùng ban nhạc gia đình gồm cha, chú ruột và anh trai mình tại hiệu cắt tóc. Đến năm 14 tuổi James đã hát và chơi trống cho một vài nhóm rock tại địa phương nhưng anh hiểu rằng trống chỉ xếp thứ hai sau khát vọng thực sự của anh là được hát. Năm 18 tuổi James tới Toronto và 3 năm sau anh bắt đầu luyện tập dưới sự kèm cặp của giảng viên nổi tiếng Rosemary Patricia Burns. Anh trở thành ca sỹ chính của nhóm Winter Rose, ban nhạc đã ký được hợp đồng với Atlantic Records. Sau đó Pierre Paradis,người quản lý ban nhạc VoiVod đã đặt vấn đề với James về việc thực hiện một dự án solo với Aquarius Records. Ông ta cũng nói với James về một ban nhạc New York tên là Dream Theater đang tìm kiếm một ca sỹ. James quyết định đến Mỹ và phần còn lại, theo người ta thường nói, đã trở thành lịch sử...Website của James :
www.jameslabrie.com.


Sau khi ký được hợp đồng thu âm, các thành viên của D.T nhận thấy Chris Collin hoàn toàn không đủ trình độ mà ban nhạc cần để ghi âm một album. Ban nhạc phải bắt đầu một quá trình gian nan tìm kiếm ca sỹ và cuối cùng chọn được Charlie Dominici vì trong số các ca sỹ đến thử giọng không ai có khả năng như anh ta. Charlie tuy có nhiều kinh nghiệm nhưng làm việc không nhiệt tình và chỉ thích hát những gì mình thích chứ không phải là những sáng tác của ban nhạc - chính vì thế chẳng mấy chốc mà các thành viên còn lại thấy ngán ngẩm anh ta. Mùa hè năm 1988, D.T ghi âm album đầu tay "When Dream and Day Unite" tại Kajem/Victory Studios ở Gladwyne, Pennsylvania với nhà sản xuất Terry Date ( người từng cộng tác với Soungarden, Pantera ).

http://www.mikeportnoy.com/images/daydream.jpg

Bất chấp ngân quỹ hạn hẹp và số lượng phát hành hạn chế, album này vẫn được báo chí âm nhạc đón nhận nồng nhiệt, tuy không nhận được sự phản hồi từ các đài phát thanh nhạc metal ở Mỹ. Thật không may là Mechanic không có đủ ngân quỹ để giúp ban nhạc tiến xa hơn với một tour diễn quảng bá hoặc một cuốn video. Bởi thế, những buổi diễn của D.T chỉ hạn chế ở một số khu vực tại New York, nó nhanh chóng kết thúc và ban nhạc buộc phải quay trở lại điểm xuất phát. Đầu những năm 90, ban nhạc quyết định sa thải Charlie sau một buổi diễn cuối cùng với tư cách ban nhạc mở màn cho nhóm Marillion ( ban nhạc Anh đã đích thân mời D.T đến biểu diễn ). Tại show diễn đặc biệt này họ đã gây ấn tượng bởi một ca khúc mới có tên "Metropolis", báo hiệu trước một tương lai tươi sáng cho ban nhạc. Nhưng vào lúc đó việc thất bại trong việc tìm kiếm một ca sỹ mới đã trở nên nghiêm trọng đến mức có lúc các thành viên đã phải cân nhắc khả năng chuyển hướng D.T thành một nhóm biểu diễn nhạc khí thuần tuý. Họ vẫn viết nhạc và biểu diễn trong các CLB ở New York trong suốt hai năm, sự thực là rất nhiều ca khúc trong album kế tiếp "Images and Words" đã được biểu diễn dưới hình thức các bản instrumental trước khi ca từ được viết.

Bên cạnh đó D.T cũng ưa thích việc biểu diễn những đoạn nhạc khí trong các ca khúc kinh điển của Led Zeppelin,Yes, Queen, Beatles, Van Halen thành liên khúc. Ban nhạc tiếp tục quá trình tìm kiếm ca sỹ. Đầu tiên John Arch của Fates Warning được mời vào xong anh ta không dồng ý.Tiếp đó là Steve Stone, một ca sỹ có phong cách rất giống Geoff Tate (ca sỹ của Queensryche) người đã vài lần biểu diễn với ban nhạc nhưng rồi cũng không thật sự ăn khớp với chất nhạc của D.T. Cuối cùng Chris Cintron đã gần được chọn, cho đến khi một cuốn băng được gửi đến từ Canada...Thật không may cho Chris là ban nhạc đã không chọn anh ta mà lại lựa chọn một anh chàng người Canada có cái tên lạ lẫm Kevin LaBrie - nhưng đó chính là ca sỹ mà họ đang cần.

http://www.dreamtheater.net/pics/bio_labrie1.jpg

Vào lúc gia nhập ban nhạc Kevin đã quyết định sử dụng tên đệm của anh, James. Lý do là vì ban nhạc đã có hai chàng John rồi, nên không thể có hai chàng Kevin nữa. D.T ký kết hợp đồng với Atco/East West Records và ghi âm album thứ hai "Images And Words" với nhà sản xuất David Prater vào cuối năm 1991 tại Bear Track Studios, một phòng thu với phương tiện còn khiêm tốn ở Suffern, NY; là nơi đã từng tiếp đón Pink Floyd khi họ từ Anh qua Mỹ để ghi âm tuyệt tác The Wall. Chủ phòng thu Jay Beckenstein, một cây kèn saxophone cự phách đã tham gia vào ca khúc "Another Day". James biểu diễn lần đầu với ban nhạc vào ngày 8/6/1992 tại CLB Ritz ở New York khi D.T mở màn cho Iron Maiden. Các fan trung thành của ban nhạc - những người thậm chí đã thuộc hết lời các ca khúc trong "Images And Words" từ trước khi nó được phát hành, đã đón nhận James một cách nồng nhiệt.

Sau khi phát hành album mới, D.T đã ký hợp đồng với Roundtable Entertainment và bắt tay vào chuyến du diễn thế giới lần đầu tiên. Họ đã nhận được sự hậu thuẫn đắc lực của báo giới, của các đài phát thanh và ngay cả MTV. Chỉ sau một tuần phát hành ban nhạc nhận được tin "Images And Words" đã đạt được đĩa vàng tại Nhật Bản. Đây quả là một album kinh điển của Progressive rock trong thập niên '90 với những ca khúc đỉnh cao như "Pull Me Under", "Another Day", "Under a Glass Moon","Metropolis pt.1"...Nó trau chuốt, tinh xảo và tràn đầy tính ngẫu hứng với ca từ mang đậm chất thơ và giai điệu lúc du dương mê hồn lúc lại vô cùng dữ dội mạnh mẽ.

http://www.lyrics.com/d/dream.theater/images.and.words.jpg

Mặc dù được thừa nhận trên toàn cầu, ban nhạc vẫn tỏ ra biết ơn những người hâm mộ lâu năm ở địa phương với việc tổ chức một buổi hoà nhạc tại Limelight ở New York vào ngày 4/3/1993. Không có nghệ sỹ nào mở màn, ban nhạc đã chơi gần ba giờ đồng hồ và lần đầu tiên trình diễn một loạt các ca khúc mới như "To Live Forever", "Eve" và thiên sử thi dài hơn 20 phút "A Change of Seasons", một tác phẩm mà họ rất ít khi trình diễn đủ. Châu Âu là chặng tiếp theo trong tour diễn "Music in Progress", nơi mà họ đã ghi âm EP "Live at the Marquee" tại CLB danh tiếng này của London. Sức sáng tạo của D.T thật khó tin : họ liên tục giới thiệu các ca khúc mới ngay cả trong các buổi diễn tại các sân khấu đông nghịt khán giả và trong tay không có gì ngoài các đoạn ứng tác bất chợt ! ( Không thua gì Grateful Dead, The Doors, Frank Zappa hay Rush ngày xưa !). Show diễn của họ tại Tokyo đã dược quay phim và phát hành video vào cuối năm 1993.

Tháng 11/1993 ban nhạc hoàn thành chuyến lưu diễn song họ vẫn ghé qua Hàn Quốc vào tháng 1/1994 do người hâm mộ ở đây đòi được xem ban nhạc diễn nhiều quá ( quê gốc của Myung mà !). Tháng 3/1994, D.T bắt đầu làm việc cho album mới của họ sau một thời gian tạm nghỉ, đây là album đầu tiên được thực hiện bởi một ban nhạc hoàn chỉnh ( có sự tham gia của James ). Lúc đầu ban nhạc dự định sẽ sử dụng các ca khúc chưa được phát hành đã được giới thiệu trong các show, tuy vậy nó đã kết thúc bằng việc Dream Theater viết được hàng loạt ca khúc mới cho một album dài tới 75 phút ! Ban nhạc chỉ giữ lại một phần rất nhỏ các chất liệu cũ như đoạn ứng tác "Puppies on Acid" được đưa vào ca khúc "The Mirror"; "To Live Forever" được phát hành ở mặt B của đĩa đơn "Lie" và đoạn nhạc khí "Eve" được đưa vào ca khúc "Silent Man". Tháng 5/1994, cả ban nhạc chuyển đến Los Angeles để làm việc với bộ đôi John Purdell và Duane Baron - hai nhà sản xuất duy nhất có khả năng giao thoa các ý tưởng âm nhạc của họ. John Petrucci bắt đầu thử nghiệm guitar 7 dây trong album này. Không may là giữa quá trình thu âm, Kevin Moore quyết định rời nhóm - đây là một cú sốc nặng với D.T, đặc biệt là hai chàng John đã cùng trưởng thành với Kevin. Giải thích cho sự ra đi bất ngờ này, Kevin nói rằng anh muốn theo đuổi một chiều hướng sáng tác mới khác hẳn với những gì anh đã viết cùng D.T và chia tay là cách tốt nhất cho cả anh lẫn ban nhạc. Kevin rời nhóm ngày 22/8/1994 và ngay sau đó thành lập nhóm Chroma Key.

http://heavyharmonies.com/cdcovers/D/DREAMTHEATER1.JPG

Sau một loạt những cuộc thử nghiệm để tìm ra tay keyboard mới, ban nhạc quyết định chọn Jordan Rudess (từng chơi cho Dixie Dreggs) và Derek Sherinian (từng chơi cho Kiss và Alice Cooper) thay phiên nhau chơi trong ban nhạc. Derek được công bố là thành viên chính thức của ban nhạc vào năm 1995. Album mới "Awake" được phát hành vào ngày 4/10/1995 và đạt được kết quả ngoài mong đợi của ban nhạc.



Đĩa đơn "Lie" trở thành một hit lớn trên các đài phát thanh ở Mỹ và video của nó được phát thường xuyên trên MTV - sự khởi đầu tuyệt vời cho một album được đánh giá là quan trọng nhất trong sự nghiệp của Dream Theater. Ban nhạc thực hiện thành công chuyến lưu diễn vòng quanh nước Mỹ năm 1995 và sau đó đến Nhật Bản và châu Âu. Ngày 19/9/1996 ban nhạc phát hành EP "A Changes of Seasons" bao gồm thiên sử thi dài 23 phút "A Change of Seasons" và một phần buổi diễn mà trong đó DT chơi lại một số ca khúc của Led Zeppelin, Deep Purple, Pink Floyd, Genesis...



Tháng 12/1996, DT thực hiện tour diễn "The Fix for '96" và giới thiệu 5 trong số 10 ca khúc của album kế tiếp "Falling Into Infinity". Tháng 4/1997 đánh dấu sự ra đời của tour diễn kế tiếp "The Fix for '97" tại châu Âu. Và vào ngày 23/9/1997, "Falling Into Infinitiy" được phát hành ở Mỹ. Album này cũng nhanh chóng chiếm lĩnh các đỉnh cao mới với các ca khúc như "Hollow Years","Peruvian Skies","Just Let Me Breathe","Take Away My Pain"... Năm 1998 DT phát hành album live đôi "Once In A LIVETime" bao gồm các ca khúc trong các album trước và một số phần trình diễn quý hiếm của ban nhạc. Ngày 18/1/1999 ban nhạc công bố quyết định thay tay keyboard Derek Sherinian bằng Jordan Rudess, người đã từng hợp tác với Mike và John trong dự án Liquid Tension Experiment (LTE). Đội hình mới này đã thực hiện album "Scenes from A Memory" và phát hành trong năm 1999. Đây là một album dạng concept rất hoàn hảo ( giống như The Wall của Pink Floyd ) và ca khúc "Through Her Eyes" trong album này là một single rất thành công. Năm 2000, DT thực hiện một buổi diễn trọn vẹn album này tại New York và sau đó buổi diễn này đã được ghi âm vào album live "Metropolis 2000: Scenes from New York" cũng như phát hành trên đĩa DVD trong tháng 9/2001. Ban nhạc đã bắt buộc phải thay đổi bìa album trước khi phát hành do những vụ khủng bố kinh hoàng vào New York và Washington ngày 11/9.

http://www.christopherlloyd.net/dt2.jpg

Ngày 29/1/2002 vừa qua, DT đã phát hành album mới "Six Degrees Of Inner Turbulence" dưới dạng một album đôi. Album này bao gồm các ca khúc rất dài hơi và thuần chất progressive truyền thống của D.T (đĩa 1) và cả một thiên sử thi thứ hai sau "A Changes of Seasons" mang cùng tên album dài gần 43 phút ( đĩa 2 ) ! Dream Theater tiếp tục khẳng định vị thế hàng đầu của một nhóm Progressive metal tiên phong trong khi các tên tuổi khác như Queensryche, Royal Hunt...từ lâu đã mờ nhạt.

http://www.heinhart.de/images/cover/dreamtheater_6doit.jpg http://www.rockguiden.se/Bilder/dreammetr.jpg

VietrocK
12-02-2002, 05:06 PM
http://www.ciudadfutura.com/rockbands/rhapsody/logorhapsody.gif

HEROES OF THE LOST VALLEY....

Luca Turilli: cầm guitar từ khi mới 16 tuổi ,Luca đã bị quyến rũ hầu như là ngay lập tức bởi thể loại âm nhạc Tân cổ điển (New classical). Sau những tháng ngày miệt mài luyện ngón trên những bản phóng tác dành cho guitar classic những tưởng Luca sẽ trở thành một nhạc công bình thuòng nhưng không ngờ từ nền tảng ban đầu đó anh sáng tác ra một thứ âm nhạc theo cách mà anh đặc biệt yêu thích: đó là những tác phẩm được kết tinh từ sự hoà trộn nhuần nhuyễn giữa phong cách hoa mỹ của trường phái âm nhạc baroque được chơi với tốc độ của speedmetal và nội dung của các bài hát là những câu chuyện về các hiệp sĩ thời Trung cổ khoảng 1100-1400 sau công nguyên.

http://www.metallibrary.ru/bands/discographies/rhapsody/photos/luca_turilli.jpg

Nghe Rhapsody, đặc biệt là ở những đoạn intro hoặc là những trích đoạn ngắn được lấy ra từ những thiên anh hùng ca của họ, ta nhận ra ngay những cú "sweep"- một kĩ thuật chơi guitar đặc trưng của Luca (cái này là bị ảnh hưởng từ nhũng bản sonate của Paganini dành cho violon).

Có một lần Luca tiết lộ rằng anh có ước muốn là viết những bản opera rock dành cho guitar điện cùng dàn nhạc giao hưởng trình tấu ( điều này tuy không mới vì Y.Malsteel đã làm được đó là bản concerto số 1 cung Ebm dài 55') nhưng dù sao chúng ta cũng hãy chúc cho những ý tưởng của anh ấy thành hiện thực.

Alex Staropoli: tay keyboard đa tài và hết sức sáng tao. Rất thích đưa những âm thanh hoành tráng được tạo ra từ cây đàn Korq 01/wPro vào những khoảng nghĩ giữa đoạn của các nhạc phẩm và cùng chia sẻ với Luca trong việc sáng tác, tuy nhiên những bài hát do Alex tạo ra thường được viết theo một hoặc có khi là nhiều chủ đề được lặp đi lặp lại theo một mô thức phức hợp. Bên cạnh đó anh cũng rất thích những âm thanh của dàn nhạc giao hưởng với những bản opera được phối hợp nhiều kiểu giai điệu khác nhau để hình thành nên một bản nhạc duy nhất có hình thức đối âm và giàu tính phức điệu. Ước mơ của anh là được chơi một cách thực sự cây đàn ống (một dạng đàn organ rất lớn với âm thanh được thoát ra từ những ống dẫn khổng lồ chĩa thẳng lên trời và tuỳ theo từng âm vực khác nhau mà độ dài của ống cũng khác nhau)......

http://www.metallibrary.ru/bands/discographies/rhapsody/photos/alex_staropoli.jpg

Fabio Lione: Người kể chuyện cổ tích bằng giai điệu Fabio Lione bắt đầu sự nghiệp từ khi 17 tuổi và dành cả một năm sau đó chỉ để luyện giọng, Fabio Lione đã đến với chúng ta bằng một phong cách trộn lẫn giữa sự sâu lắng của cổ điển và chất mạnh mẽ của heavy metal .Ở anh ,ta tìm thấy một chất giọng trầm ấm giàu sắc thái biểu cảm, mượt mà. Hẵy lắng nghe cách xử lý các ca khúc của anh: nó mang đến cho những ca từ trong các nhạc phẩm của Rhapsody những cách diễn đạt đầy mới mẽ.

http://www.metallibrary.ru/bands/discographies/rhapsody/photos/fabio_lione.jpg

Alex Holzwarth: Từ những nhac phẩm của Rhapsody,chúng ta có thể nhận ra rằng Alex rất thích biểu đạt tiếng nói và sức mạnh của mình qua lối sử dụng cặp chân bass đầy uy lực và rất tốc độ. Tiếng trống của anh là sự kết hợp hoàn hảo của âm nhạc theo trường phái baroque cùng với những âm thanh bị ảnh hưỡng từ các nhạc phẩm của Helloween và Dio. Chúng bổ sung rất hoàn thiện cho những tuyệt phẩm được theo phong cách cổ điển của Rhapsody. Tôi mê đắm cái cách Alex "chạy nền" trong các bài hát. Tôi tin rằng không có ai thể hiện tính huyền ảo, hùng tráng của những truyền thuyết về các hiệp sĩ thời trung cổ một cách trọn vẹn như Alex Holzwarth...

Alessandro Lotta: người hùng trầm lặng này gây ấn tượng với tôi rất mạnh. Tuy chỉ là tay bass thứ 3 sau Andrea Furlan va Sascha Peath nhưng chính anh mới là điểm nhấn tuyệt vời nhất cho phần bè trầm trong các bài hát của Rhapsody. Lần đầu tiên nghe anh chơi, thú thật là tôi không hề ngạc nhiên ....một cảm giác của sự quen thuộc. Có một chút gì đó rất giống cách hành âm prestissimo của tay bass của Manowar. Nhưng phải nói là các câu bass của anh cũng có nét đặc trưng riêng biệt. Nhét cái headphone vào tai tôi đã tập trung cao độ chỉ để tìm những đoản khúc bass tốc độ và đầy mê hoặc lẫn khuất nhưng rất hùng biện trong những tuyệt phẩm được phối khí phức tạp của Rhapsody.

* Ngoài ra cũng phải nhắc đến những cái tên đã có một thời gắn bó và góp phần xây dựng nên "bản trường ca " bất tử này :
- vocalist: Cristiano Adacher
- bassist: Andrea Furlan
- bassist kiêm producer: Sascha Peath

"BẢN GIAO HƯỞNG VÙNG ĐẤT BỊ PHÙ PHÉP"
(SYMPHONY OF ENCHANTED LANDS)

http://www.chedsey.com/images/rhapsody/symphony.jpg

Ra đời vào tháng 11-1998, album thứ 2 của Rhapsody được đánh giá là có nhiều tiến bộ và giàu chất cổ điển hơn so với album đầu tiên "Legendary Tales". Nghe xong album này tôi có cảm giác cứ như là chưa bao giờ chất giọng của Fabio Lione lại hoà quyện một cách hoàn hảo với thể loại nhạc neo-classical metal đến như vậy. Tất cả các bài hát trong album đều được chơi với một cảm xúc khiến cho chúng ta nảy sinh những cảm nhận thật đặc biệt khi nghe chúng. Có một điều thú vị ở album này là Sascha Peath - người đảm nhận phần bass trong album đầu tiên lại trở thành nhà sản xuất, thay thế cho vị trí của anh là Alessandro Lotta - một tay bass đầy tài năng. Symphony Of Enchanted Lands là phần hai của câu chuyện "Saga Of The Emerald Sword" tiếp theo phần một là album đầu tay của họ, Legendary Tales. Câu chuyện về những con rồng, thanh gươm, trận chiến giữa thiện và ác, nội dung kể về người chiến binh của băng giá trong sứ mệnh tìm kiếm thanh gươm màu lục bảo ẩn phía sau toà tháp đen trong vực thẳm, người anh hùng phải tìm thấy ba chiếc chìa khoá để mở những cái cổng bằng ngà, trên đường đi anh ta phải vượt qua vùng đất ma lực và muôn vàn gian nguy, thử thách.

http://www.scream.no/magazine/scr43/bilder43/rhapsody.jpg

Track 1 và 2 có thể xem như là một bài. Epicus Furor là sự khởi đầu của Emeral Sword (lưỡi gươm màu lục bảo). Đoạn intro này được chơi rất cổ điển với dàn hợp xướng. Còn Emeral sword là tựa đề của một single đã ra đời vài tuần trước đó. Một bản nhạc rất hay: hội tụ đủ mọi âm thanh của Rhapsody .

Wisdom Of Kings là track thứ 3. Bài hát bắt đầu từ những âm thanh êm nhẹ, man mác được hoà trộn bởi tiếng guitar mộc mạc cùng với tiếng sáo du dương trải dài trên cái nền trầm buồn của cello trước khi được chơi nhanh bằng những âm điệu mạnh mẽ khác hẳn. Để rồi kết thúc là sự đan xen lẫn nhau rất tuyệt vời giữa tiếng đàn violin và guitar .

Track 4 và 5 cũng có thể nghe như là một bài, phần đầu Heroes of the Lost Valley (những anh hùng trong thung lũng bị mất tích) gồm hai đoạn:
đoạn 1 có tên gọi: Entering The Waterfall's Realm (đi vào vương quốc những thác nước)...Có thể nói đây là 1 bản instrumental trữ tình nhất của thế giới metal: tiếng nước chảy đan xen với tiếng chim ríu rít trong gió hoà với những âm thanh êm ái, mơ màng như lời tâm sự của hai nhạc cụ flute và đàn clavico (giống đàn piano nhưng dây được gảy bằng máy) .Đó thực sự là một dẫn dắt tuyệt vời cho đoạn 2 có tên là The Dragon's Pride (niềm kiêu hãnh của rồng ): được bắt đầu bằng những âm thanh của gió lạnh và tiếng ngựa hí trước khi chất giọng của F.Lione được thể hiện rất ấn tượng trong đoạn độc thoại dài 56''. Ở đây vai trò của một narrator được áp dụng hết sức sáng tạo. Nó gây nhiều bất ngờ cho người nghe cũng như tạo sự liền mạch với bài 5 Eternal Glory (chiến thắng vĩnh cửu). Thật khó có nhạc cụ nào qua được trống và trumpet trong những khúc ca khải hoàn: âm hưỡng của tiếng trumpet bắt đầu bài 5 tuy ngắn nhưng không hề bị át bởi nền nhạc đa âm của Rhapsody. Nó cùng với nhịp trống quân hành của D.Carbonera tạo nên một bức tranh hoành tráng và mang đến cho người nghe những xúc cảm mạnh mẽ. Trong bài này ta có thể thấy tốc độ metal đặc trưng của Rhapsody cũng như sự chú trọng phần nhạc lẫn ca từ ở những đoạn điệp khúc trong các bài hát của Rhapsody: rất tuyệt vời .

Beyond the Gates of Infinity: là track thứ 6 của album: được khởi thuỷ bằng những tiếng tru hoang dại của bầy sói ăn đêm trước khi Alex đưa những thanh âm keyboard có sự hộ tống bởi những câu bass lặp liên 4 với nhịp giật rất lôi cuốn của A.Lotta tạo nên một khúc intro chuẩn mực của heavy metal. Các bạn hãy lắng nghe phần còn lại: có nhiều mới mẻ cả phần hát lẫn phần nhạc. Đặc biệt là sự thay đổi tốc độ giữa các đoạn trong bài hát ....lúc thì được đẩy nhanh, rồi êm dịu hơn sau 4' và bỗng được đẩy nhanh mạnh thêm một lần nữa trước khi kết thúc bài bằng nhưng giai điệu rất cổ điển. Ở bản nhạc này là mỗi thành viên trong band đều có tiếng nói rất cụ thể ,rõ ràng chứ không phải là sự hoà trộn như những bài trước .
Wings of Destiny (ôi cánh số phận) là một bản ballad với những giai điệu chậm rãi của piano, một giọng hát rất truyền cảm, một vài note bas trồi lên khỏi nền nhạc có nhịp điệu đều đều và một khúc solo sáo hay không chê vào đâu được. Tất cả như một làn gió mát. Rất dễ chịu.

The Dark Tower of Abyss là một bản nổi tiếng của Rhapsody. Tôi đã ngạc nhiên khi nghe khúc dạo đầu của bài này. Một sự cộng hưởng thú vị về mặt âm thanh của hai loại nhạc cụ có họ hàng với nhau: đó là những giai điệu classic của piano và những tiếng đàn mê say của cây clavico. Sau đó là một công thức thường thấy ở Rhapsody: tốc độ metal được chơi cùng với những phần cổ điển, đội hợp xướng hùng tráng, nhũng tiếng đàn organ cao vút ....Và có lẻ tiêu điểm của bài này là đoạn hỗn chiến tuyệt vời giữa violin và guitar. Một bài hát rất xưng đáng được ghiền .

Thêm một bài hát kinh điển nữa của album Riding the Winds of Enternity: được bắt đầu bằng những âm hưởng của dàn nhạc và kết thúc là nhưng giai điêu lanh lảnh của sáo. Theo tôi điều hấp dẫn nhất của bài này chính là ở những đoạn điệp khúc rất hay .

Và cuối cùng nhưng không phải là dở nhất: là bài hát mang tên album - một công trình không gì sánh nổi. Tuyệt tác phẩm kéo dài 13' này gồm 4 phần. Phần 1 có tên gọi Tharos Last Fight là một đoạn độc thoại dài 1':52''. Phần 2 có tên The Hymn of the Warrior (2'15''): một giọng hát mạnh mẽ dược yểm trợ bởi tiếng đàn violin và organ, nghe rất hùng tráng vào khúc cuối. Phần 3 (Rex Tremende 6'52'') là phần hoà trộn mọi phong cách của Rhapsody: những đoạn được chơi phức tạp, giai điệu mới mẽ, rất tốc độ, những dàn hợp xướng và dĩ nhiên là rất classic rồi. Trong phần này có sự tham gia của giong ca nữ Constanze Vaniyne. Phần cuối cùng được gọi là The Immotartal Fire. Phần này dài 2'18'' là phần kết thúc được chơi rất cổ điển khép lại tuyệt phẩm này. Một bản symphony thật lộng lẫy. Khó tìm ra một bài hát nào có thể truyền lại được cái cảm giác diệu kì của âm thanh cho người nghe như nó. Sự kết hợp hoàn hảo giữa các nhạc cụ cũng như tài năng của các thành viên trong nhóm .

Một bức tranh âm thanh đặc biệt, độc đáo có một không hai cả về cách lý giải tình tiết câu chuyện lẫn cách xử lý các màu sắc của giai điệu.. Nếu có Viện bảo tàng cho Neo-clasical metal thì tôi sẽ đặt Symphony of the Enchanted Lands vào vị trí trang trọng nhất....

http://www.truemetal.org/heavyweight/+rhapsody.JPG

VietrocK
12-02-2002, 05:16 PM
[glow=red:732ad7ccb1][color=yellow] Black Sabbath[/color][/glow:732ad7ccb1]

http://www.blacksabbath.com/images/BlackSabbath_logo.gif

Heavy Metal được định nghĩa một cách đơn giản là nhạc Rock 'n Roll trong đó phần Rock là lớn hơn và yếu tố Roll phần nào đã bị loại bỏ. Âm nhạc ồn hơn, nặng hơn và nhanh hơn so với những thể loại tiền bối của nó. Black Sabbath, ban nhạc khởi đầu sự nghiệp vào đầu những năm '70 được thừa nhận rộng rãi là ban nhạc Heavy Metal đầu tiên, với những chủ đề âm nhạc tăm tối và bí hiểm.

Black Sabbath đã có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành phong cách cho thể loại này. Ban nhạc đã đưa những âm thanh blues-rock của những nghệ sỹ ở thập niên '60 như Cream, Blue Cheer, và Vanilla Fudge tới điểm kết hợp lý bằng việc giảm bớt nhịp độ, nhấn mạnh tiếng bass và tăng thêm ấn tượng bằng các đoạn guitar solo dữ dội cũng như những ca từ diễn tả sự thống khổ về tinh thần và những hình ảnh tưởng tượng rùng rợn.

Ban nhạc được thành lập bởi 4 người bạn thân từ thời niên thiếu ở Aston, gần Birmingham, Anh quốc, đó là : Anthony "Tony" Iommy (sinh ngày 19/2/1948) chơi guitar; William "Bill" Ward (sinh ngày 5/5/1948) chơi trống; John "Ozzy" Osborne (sinh ngày 3/12/1948) ca sỹ và Terence "Geezer" Butler (sinh ngày 17/7/1949) chơi bass. Lúc đầu ban nhạc mới chỉ chơi thể loại jazz-blues dưới cái tên Polka Tulk, sau đó ban nhạc đổi tên thành Earth và bắt đầu chơi ở một số nơi tại châu Âu. Vào đầu năm 1969, họ quyết định đổi tên một lần nữa vì phát hiện ra rằng mình đang bị nhầm lẫn với một nhóm khác cũng tên là Earth. Có hai giả thiết cho cái tên Black Sabbath của họ :

1) Dựa trên một cuốn tiểu thuyết của nhà văn siêu thực Dennis Wheatley mà từ đó đã gợi cảm hứng cho Butler viết ca khúc kinh điển "Black Sabbath".
2) Lấy tên của một bộ phim kinh dị rất ăn khách vào năm 1963 trong đó Boris Karloff đóng vai chính.
Dẫu sao thì cả ban nhạc cũng đã đồng ý với cái tên này.

Xuất hiện vào đầu thập niên '70, Black Sabbath được coi là hiện thân của tình trạng cát cứ trong âm nhạc của thập niên này. Trong thập niên '60, với điển hình là nhóm Beatles, chúng ta thấy hầu như tất cả các thể loại âm nhạc đại chúng đều có thể thống nhất trong một dòng nhạc mang tính chiết trung với một sức hấp dẫn phổ biến cho mọi tầng lớp người nghe. The Beatles cũng có thể biểu diễn những bản acoustic ballad giống như những nghệ sỹ Hard rock hoặc R&B. Vào đầu thập niên '70, những dòng nhạc đã có xu hướng tách ra rõ rệt với những nghệ sỹ soft-rock như James Taylor hay Everly Brothers chỉ chơi các chất liệu mang tính ballad và những nghệ sỹ hard-rock như "khí cầu" Led Zeppellin hay "búa tạ" Grand Funk Railroad đã cải tổ tận gốc rễ của Rock 'n Roll, trong khi nhạc R&B cũng tăng cường thêm tính "chiến đấu" của nó. Thế hệ những nhà phê bình đầu tiên - những người xuất hiện cùng thời với Beatles đã tỏ ra hoảng sợ trước hướng phát triển này và dường như không thèm để mắt đến những nghệ sỹ mới bất chấp tính đại chúng cao độ của họ. Và Black Sabbath, ban nhạc đã đem đến hơi thở mới cho rock n' roll dường như là cái đích để họ nhào vô "đánh hội chợ" hơn là Led Zeppelin vẫn sử dụng nhiều chất liệu blues, folk truyền thống (cuối cùng thì họ đã "hạ vũ khí" thoả hiệp với Led nhưng chưa bao giờ làm điều đó đối với Black). Nhưng ban nhạc đã làm được một điều quan trọng hơn đó là giành được cảm tình của đông đảo công chúng.

http://www.black-sabbath.com/images/oddballs/sabbathpostcard.jpg

Black Sabbath nhanh chóng gây chú ý bởi những buổi biểu diễn sống đầy ấn tượng của họ, và cuối năm 1969 họ ký được hợp đồng với Philips Records. Tháng 1/1970, single đầu tiên của họ - bản cover một bài hit của nhóm blues-rock CROW - "Evil Woman (Don't Play Your Game With Me)" được phát hành nhưng không lọt vào bảng xếp hạng. Thứ 6, ngày 13/2 năm 1970 , Vertigo - một chi nhánh của hãng Philips phát hành album đầu tay có cùng tên ban nhạc và ngay lập tức lọt vào bảng xếp hạng tại Anh. Đến tháng 8/1940, nó gây chấn động tại Mỹ khi lọt vào Top 40 và bán được trên một triệu bản.

http://image.allmusic.com/00/amg/cov200/drc300/c351/c35165m16xl.jpg

Đây là một album kinh điển của Heavy Metal ở buổi sơ khai với những ca khúc như "Black Sabbath", "Behind the Wall of Sleep" và "N.I.B". Tuy nhiên trong đĩa này Black Sabbath vẫn còn "vương vấn" với chất liệu blues truyền thống cho nên chưa thể coi đây là một đĩa nhạc Heavy Metal thực sự. Nhưng dù sao lúc bấy giờ nó cũng là một sự kiện âm nhạc nổi cộm. Bìa album với hình một bức tượng ma quái với khuôn mặt bệnh hoạn trong bộ đồ đen đứng bên một hồ nước giữa cảnh chiều tà nhập nhoạng đã đánh dấu cho sự ra đời của những tư tưởng rùng rợn trong các ca khúc của thể loại Heavy Metal sau này.

Black Sabbath thực sự lên đến đỉnh cao với album thứ hai, Paranoid, là một sự pha trộn tài tình giữa Heavy metal và Psychedelic Rock, vào tháng 9/1970. Ca khúc cùng tên album được phát hành trước đã lọt vào Top 5 tại Anh, góp phần đưa album lên ngôi vị số một (sau này nhóm thrash sừng sỏ Megadeth đã lại biến nó thành một bài hit bằng việc "bơm" thêm tư tưởng bạo lực vào ca khúc này). Tại Mỹ mãi đến tháng 1/1971 album này mới được phát hành nhưng đến tháng 3 nó cũng lọt vào Top 10 và ở lỳ trên bảng xếp hạng suốt một năm. Có thể nói Paranoid đã đánh dấu một đỉnh cao tiền khởi của Heavy Metal với những ca khúc kinh điển, đặc trưng cho thể loại này như "Paranoid", "War Pigs" (một ca khúc anti-war có nội dung mỉa mai thâm thuý và sâu sắc), "Iron Man", "Fairies Wear Boots", "Electric Funeral" (những ca khúc với ca từ kỳ quặc và giai điệu cuốn hút mang đậm tính "hoang tưởng" cao độ), "Planet Caravan" (một bản psy-ballad, một bài thơ với những hình ảnh - ảo giác rất đẹp và phiêu diêu, sau này đã được Pantera chơi lại trong đĩa "Far Beyond Driven"); ngoài ra còn phải kể đến "Hand of Dooms" cũng là một ca khúc có nội dung anti-war và bản solo trống có cái tên rất ghê "Rat Sallad" của Bill Ward.

http://image.allmusic.com/00/amg/cov200/drc500/c523/c523879cnv8.jpg

Tháng 8/1971, Black Sabbath phát hành album thứ ba, Master Of Reality, vẫn trung thành với những gì ban nhạc đã thể hiện trong album trước. Mở đầu bằng bản "tình ca" kỳ quặc "Sweet Leaf", album này cũng sản sinh ra rất nhiều ca khúc kinh điển của Black Sabbath và điều làm tôi thích thú ở album này là các đoạn guitar acoustic ngắn xuất hiện ở trước một vài ca khúc, như "Embryo" trước "Children of the Grave" (mỗi khi biểu diễn ca khúc này Ozzy đều nhảy lò cò một điệu polka theo đoạn nhạc này, hì hì ) và "Orchid" trước "Lord of this World". Ngoài ra còn phải kể đến những ca khúc đầy năng lượng như "After Forever" hay "Into the Void". Album này cũng lọt vào Top 10 ở cả Anh và Mỹ.

http://image.allmusic.com/00/amg/cov200/drc600/c672/c67221g75t8.jpg

Tháng 9/1972 đánh dấu sự ra đời của album thứ tư với cái tên ngắn gọn Black Sabbath, VOL.4 - một album mới lạ mà trong đó ban nhạc đã chú ý nhiều đến các xảo thuật ghi âm hơn. Album này nổi bật với các ca khúc như "Snowblind", "Supernaut", "Tomorrow's Dream" và bản ballad nao lòng "Changes". Tháng 11/1973, Black Sabbath phát hành album thứ 5, SABBATH BLOODY SABBATH. Lại tiếp tục là một album kinh điển ! Sức sáng tạo của ban nhạc ở thời kỳ này thật đáng sợ ! Mở đầu bằng bản tụng ca "Sabbath Bloody Sabbath" vẽ nên một bức tranh đẫm máu (sau này nhóm Death Metal AMON AMARTH của Thuỵ Điển đã chơi lại ca khúc này), album này thu hút người nghe từ đầu đến cuối với "Spiral Architect", "Killing Yourself to Live", "Sabbra Cadabra" (được một trong những hậu duệ xuất sắc là METALLICA chơi lại trong đĩa "Garage Inc." năm 1998). Album này cũng có sự xuất hiện lần đầu của tiếng keyboard do đôi tay tài hoa của Rick Wakeman (mượn từ nhóm progresive RUSH) đảm nhận, đánh dấu một bước chuyển nhỏ trong phong cách âm nhạc của Sabbath.
Trong năm 1974, Sabbath vướng vào một loạt những rắc rối về nhân sự đã khiến cho ban nhạc phải ngồi chơi xơi nước trong một thời gian dài...Mãi đến tháng 7/1975 ban nhạc mới quay trở lại với album thứ 6, SABOTAGE. Nhưng tình hình đã thay đổi, Sabbath được chào đón nồng nhiệt tại nước Anh nhưng tại Mỹ giới hâm mộ đã tỏ ra không mấy mặn mà với ban nhạc. Tuy nhiên theo ý kiến chủ quan của tôi, đây là một album có ảnh hưởng rất lớn đến dòng nhạc Metal sau này với những ca khúc như "Hole in the Sky", "Symtomp of the Universe" (sau này được SEPULTURA biến đổi thành một ca khúc Death Metal rất "phê"), "Am I Going Insane(Radio)" và các ca khúc rất dài hơi như "Megalomania" và "The Writ". Nhìn chung đĩa này Sabbath đánh nặng hơn so với các đĩa trước và cũng khó nghe hơn.

Trước tình hình không mấy khả quan của Sabotage, hãng đĩa của Sabbath đã tung ra bộ đôi LP WE SOLD OUR SOUL FOR ROCK 'N ROLL vào tháng 12/1975 ghi lại những buổi biểu diễn live của ban nhạc. Nội bộ của Sabbath tiếp tục lục đục trong việc thay đổi phong cách chơi nhạc của nhóm. Tay guitar nhiều tham vọng Toni Iommi muốn bổ sung thêm nhiều yếu tố mới vào nhạc của Sabbath, bao gồm cả kèn co; nhưng Ozzy kiên quyết không chấp nhận bất cứ sự thay đổi nào. TECHNICAL ECSTASY (tháng 10/1976) là kết quả của những thử nghiệm mới của Tony với những âm thanh ồn ào và phức tạp, mặc dù cũng có một vài ca khúc kinh điển như "Back Street Kids" hay "Dirty Women" nhưng đây không phải là một album xuất sắc của Sabbath. Và điều "động trời" là lần đầu tiên trong một album của Sabbath lại xuất hiện một bản nhạc uỷ mị sướt mướt như "She's Gone"(!). Bực mình,Ozzy bỏ nhóm và được thay thế bằng ca sỹ Dave Brown (từ nhóm SAVOY BROWN). Nhưng vào tháng 1/1978, Ozzy đã quay lại để cùng ban nhạc thực hiện album NEVER SAY DIE ! (phát hành tháng 9/1978). cũng như album trước, album này sản sinh ra hai hit là "Hard Road" và "Never Say Die" nhưng cũng không được thành công cho lắm. Và Ozzy đã quyết định rời nhóm vĩnh viễn để bắt đầu sự nghiệp solo của mình. Tháng 6/1979, cựu ca sỹ của RAINBOW là RONNIE JAMES DIO chính thức trở thành giọng ca chính của Sabbath (tay keyboard GEOFF NICHOLS cũng gia nhập nhưng mãi sau này mới được coi là thành viên chính).
Tháng 4/1980, đội hình mới của Sabbath phát hành album HEAVEN AND HELL. Đây là một thành công tương đối của ban nhạc sau sự ra đi của Ozzy, một phần là do sự xuất sắc của Dio trong cương vị ca sỹ chính và sáng tác. Các ca khúc hay trong album này có thể kể đến "Neon Knights", "Die Young" và "Heaven and Hell" . Tuy nhiên so với thành công rực rỡ của BLIZZARD OF OZZ (album đầu tay của Ozzy phát hành tháng 9/1980) thì album này thật khiêm tốn. Cuộc chạy đua giữa những đồng đội từng chung chiến tuyến : Ozzy và Sabbath bắt đầu trở nên quyết liệt. Đến lượt Bill Ward rời nhóm vì lý do sức khoẻ và được thay thế bởi VINNIE APPICE. Đội hình này ghi âm và phát hành album MOB RULES phát hành tháng 11/1981, tương tự như album trước, đây cũng là một album thành công với các ca khúc ăn khách như "Mob Rules", "Turn Up the Night" (tôi thì thích "Country Girl", hì hì ); album này tạo ra sự cạnh tranh tương đối với DIARY OF A MADMAN của Ozzy. Kế hoạch tiếp theo của Sabbath là sẽ cho ra một album live nhưng một lần nữa xung đột lại nổ ra giữa Dio và Iommi trong việc phối âm cho album này và hậu quả là sau khi LIVE EVIL ra đời (tháng 1/1983), Dio và Appice khăn gói quả mướp rời Sabbath (hic).
Trước tình thế hiểm nghèo,lão gia Bill Ward cấp tốc quay trở lại với ban nhạc và thật bất ngờ khi ca sỹ huyền thoại IAN GILLIAN từ địch thủ truyền kiếp của Sabbath - DEEP PURPLE đến tham gia đầu quân cho ban nhạc. Kết quả là tháng 9/1983, album BORN AGAIN ra đời. Tuy nhiên giọng ca thần thánh của Ian Gillian cũng không đưa album này lên được đến đỉnh cao (cá nhân tôi lại không ưa thích album này một phần vì hình bìa quá xấu của nó). Điểm sáng duy nhất của album này là ca khúc "Zero the Hero". Album này lọt vào Top 5 tại Anh nhưng ở Mỹ chỉ vào được Top 40. Ian Gillian cũng chỉ ở lại với Sabbath đến tháng 3/1984 thì quay trở lại với Deep.

Sabbath tái hợp với Ozzy tại Live Aid Concert vào ngày 13/7/1985 nhưng không lâu sau buổi diễn đến lượt tay bass Geezer Butler rời nhóm và trong thời gian sau đó đã qua chơi cùng...Ozzy. Giờ chỉ còn một mình Tony Iommi chèo chống Sabbath. Tony đã chiêu mộ một ca sỹ khác của Deep Purple là GLENN HUGHES cùng tay bass DAVE SPITZ và tay trống ERIC SINGER (sau này chơi cho KISS) để thực hiện album SEVENTH STAR phát hành tháng 1/1986. Trên bìa đĩa không còn cái tên Black Sabbath quen thuộc mà giờ đây đã thành "Black Sabbath Featuring Tony Iommi". Mặc dù Iommi đã rất cố gắng trong việc mang lại cho âm nhạc của Sabbath những âm hưởng mới hơn, hiện đại hơn nhưng cả giới phê bình lẫn người nghe dường như đã bỏ rơi album này.
THE ETERNAL IDOL (phát hành tháng 11/1987) được coi là một trong những album studio kém nhất của Sabbath mặc dù có sự tham gia của giọng ca điêu luyện TONY MARTIN. Dù vậy nó cũng có một ca khúc xuất sắc đó là "The Shining". Tháng 4/1989, với sự tham gia của tay trống kỳ cựu COZY POWELL (đã qua đời tháng 5/1998), Sabbath phát hành HEADLESS CROSS, phần nào hồi phục lại tiếng tăm của ban nhạc ở Anh. Tháng 8/1990, Sabbath phát hành TYR - một album mang nặng ảnh hưởng của tâm linh và tôn giáo, album này cũng chỉ giành được thành công tương đối tại Anh nhưng dưới góc độ cá nhân tôi lại thích album này vì ca từ của nó rất hay.
Sabbath trở lại đỉnh cao với DEHUMANIZER, phát hành tháng 6/1992. Đội hình trong đĩa này là "Dream Team" của Sabbath những năm 79-83 với Dio, Iommi, Butler và Appice cùng tay keyboard Geoff Nichols giờ đây đã trở thành một phần không thể thiếu của ban nhạc. Với những ca khúc xuất sắc như "TV Crimes", "Time Machine", "Master of Insanity","Too Late"; album này đã giúp Sabbath phục hồi lại vị trí của một nhóm heavy metal ăn khách với những thứ hạng cao trên các BXH ở Anh và Mỹ. Xét về phương diện nghệ thuật,đây xứng đáng là album hay nhất của Sabbath trong thập kỷ '90. Ngày 15/11/1992, Iommi,Butler và Ward đã đến diễn chung với Ozzy trong một show được công bố là buổi diễn cuối cùng của Ozzy. Lại có tin đồn Ozzy sẽ tái hợp với Sabbath.
Nhưng điều này đã không xảy ra, thay vào đó Dio và Appice lại ra đi. Iommi triệu hồi Tony Martin trở lại để thực hiện CROSS PURPOSES (phát hành tháng 2/1994). Đây là một album khá hay nhưng do phát hành ngay sau một DEHUMANIZER quá rực rỡ nên nó cũng đành chịu số phận hẩm hiu. Tương tự là FORBIDDEN (phát hành tháng 6/1995), là một thất bại lớn về mặt thương mại đã chứng tỏ sức hút của Sabbath với số đông khán thính giả đã không còn.
Trước tình hình đó, các thành viên của ban nhạc quyết định tái hợp một lần nữa trong đội hình nguyên thuỷ và xuất sắc nhất của Sabbath để thực hiện một album live. Ghi âm tại quê nhà Birmingham của ban nhạc vào tháng 12/1997, bộ đôi CD REUNION đã được phát hành vào tháng 10/1998, kèm theo hai ca khúc mới là "Psycho Man" và "Selling My Soul". Những người hâm mộ trung thành lại một lần nữa được chứng kiến một Sabbath sung sức và hăng hái mặc dù các thành viên đều đã bước sang tuổi ngũ tuần.Album này đã đạt đĩa Bạch Kim tại Mỹ và mang lại cho Sabbath một giải Grammy (lần đầu tiên) giành cho Ban trình diễn nhạc Metal xuất sắc nhất. Ban nhạc đã lưu diễn liên tục cho đến cuối năm 1999. Trong năm 2001, Sabbath đã tái hợp và chơi tại 29 thành phố trên đất Mỹ trong festival nhạc rock mùa hè OZZFEST (do Ozzy sáng lập). Và họ cũng gây ngạc nhiên khi công bố sẽ thu âm một album mới với đầy đủ các thành viên, lần đầu tiên kể từ năm 1978...

VietrocK
12-02-2002, 05:27 PM
[glow=cyan:006795c164][color=red][i][b][scroll:006795c164][center:006795c164]Savatage[/center:006795c164][/scroll:006795c164][/b][/i][/color][/glow:006795c164]

http://njsingles.hypermart.net/savachrome.jpg

[b]Thuở ban đầu[/b]

Jonathan Nicholas Oliva - người lãnh đạo Savatage - sinh tại Bronx, New York ngày 22/07/1960. Anh là một trong số bốn đứa con trong gia đình (Jo Ann, Tony và Christopher). Jon đến với âm nhạc từ khi còn rất nhỏ, như anh kể lại "Cha tôi là một nhạc công piano, và chúng tôi luôn có một cây đàn piano trong nhà, tôi đã bắt đầu bỏ thời gian ra tìm hiểu nó. Tôi chắc đó là lúc tôi 11 hay 12 tuổi. Tôi vốn là một đứa bé thiếu kiên nhẫn nên có lúc tôi đã gần như gạt nó sang một bên. Trong nhà cũng có mấy cây guitar. Đó là những thứ mà chúng tôi đã mua dần...cái duy nhất mà chúng tôi chưa có là một cây bass. Vì thế chúng tôi đã mua một cây bass màu xanh có hình giọt nước mắt rất xấu xí , tôi chắc đó là cây bass xấu nhất thế giới. Nó có những dây nylon màu đen - quả thực là lạ lùng. Những dây đàn đó dài đến sáu inches tính từ cần đàn , nhưng chúng tôi đã có bass, và tôi bắt đầu học chơi nó..."

Đó là khi mà gia đình Oliva chuyển đến California khi Jon đang ở tuổi thiếu niên và anh bắt đầu cảm thấy âm nhạc thật là hệ trọng. Nhà Oliva ở lại California trong bốn năm trước khi chuyển đến Dunedin, Florida vào năm 1976. Cùng với cậu em trai Criss (Christopher Michael Oliva) ( sinh ngày 3/4/1963), họ biểu diễn công khai lần đầu tiên tại buổi dạ hội trong một khu đất của thành phố. Jon nhớ rất rõ sự kiện này. "Chúng tôi chơi tất cả các bài hát của Kiss mà chúng tôi có thể chơi. Chúng tôi đã chơi khoảng 20 bài hát của Kiss - tất cả những ca khúc trong ba album đầu tiên của Kiss. Sau đó chúng tôi chơi hai ca khúc của Black Sabbath, "Iron Man" và "War Pigs", hai ca khúc của Deep Purple, "Smoke On The Water" và "Space Truckin' " rồi "Beer Drinkers and Hell Raisers" của ZZ Top...Tôi nhớ là đã đến chỗ biểu diễn với cái xe kéo của bố mẹ tôi còn nhạc cụ thì được quăng ra ngoài qua cửa sổ..." Trong ban nhạc lúc đó Jon chơi guitar và hát chính còn cậu em Criss thì chơi bass. Nhưng sau này Criss tỏ ra lên tay hơn ông anh, vì thế Jon đã nhường cây guitar cho Criss và quay lại chơi bass.

[b]Những bước chân đầu tiên[/b].

Vào năm 1977, ngay sau khi rời khỏi trường trung học, Jon thấy cần có một công việc cho bản thân. Anh đã phúc đáp một mẩu quảng cáo trên tờ báo âm nhạc của địa phương từ một ban nhạc lúc đó đang chơi 5 buổi trong một tuần. Đó là những gì mà anh đang mong đợi. Jon đã nhanh chóng kiếm được trên 400 đôla một tuần. Ban nhạc, được biết đến dưới cái tên Metropolis, nổi bật với Jon chơi cả guitar và đàn phím. Họ chủ yếu chơi lại các ca khúc của Bad Company, Kiss và Alice Cooper. Vào năm 1978, Metropolis đến phòng thu và thu âm một đĩa 45 vòng , một đĩa hát có hai ca khúc ở hai mặt. Những ca khúc này là kinh nghiệm thu âm studio đầu tiên của Jon. Đĩa hát này đã được bán trong các buổi diễn tại Florida. Chơi ở những quán bar tại các địa bàn như Tampa, Ft. Myers và Ft. Lauderdale đã giúp Jon tích luỹ được rất nhiều kinh nghiệm trong việc biểu diễn trước số đông khán giả. Cuối năm 1978, Metropolis tan đàn xẻ nghé khi Jon chán chường với việc biểu diễn ở các quán bar. Vào thời gian đó, Jon và cậu em trai Criss nhận ra rằng họ phải làm điều gì đó của riêng họ. Trong một thời gian ngắn , Jon và Criss tạm chia đôi ngả, nhưng không lâu sau đó họ đã lại sát cánh bên nhau trong một ban nhạc mới có tên Avatar. Avatar thủa ban đầu được thành lập như một nhóm nhạc năm thành viên được dẫn dắt bởi Jon (trống/ca sỹ) và Criss (guitar). Criss và Jon bắt đầu nhận được sự chú ý của sân khấu âm nhạc địa phương. Điều này cuối cùng là nguyên nhân khiến cho ban nhạc bắt đầu chia rẽ vì những gì Jon được hưởng đều nhận được sự ghen tức của ba thành viên còn lại. Criss và Jon lại một lần nữa đơn độc khi các thành viên khác của ban nhạc quyết định ai đi đường nấy. Họ cùng kiếm những công việc bình thường và chỉ gặp nhau vào cuối ngày tại một địa điểm gọi là "The Pit" để luyện tập và viết ca khúc. "The Pit" cũng là nơi sử dụng để luyện tập của một ban nhạc khác bao gồm một tay trống có tên Steve Wacholz. Wacholz đã rất thân thiện với anh em nhà Oliva mà anh gặp từ năm 1977 và đã từng chơi trong một ban nhạc với Jon. Steve cuối cùng đã cùng Jon và Criss thành lập một phiên bản mới của Avatar.

Jon, lúc đó đang chơi bass, đã quyết định rằng mình thích đứng trước ban nhạc và không muốn bị giới hạn bởi guitar nữa. Kết qu là, Avatar đã phải tìm thuê một tay bass, một số đã đến tham dự và nhanh chóng rời nhóm bởi nhiều lý do. Lúc đó ban nhạc đang thuê hệ thống âm thanh của họ từ một tay guitar tên là Keith Collins, đang chơi cho nhóm Solar. Anh ta đồng ý chơi cùng anh em Oliva, và gia nhập Avatar vào năm 1981. Cuối năm đó, WYNF, một đài phát thanh địa phương đã tìm kiếm một ban nhạc không chuyên để thu âm một album. Họ tổ chức một cuộc thi với phần thưởng là một vị trí trong LP. Hàng trăm ban nhạc đã gửi băng demo đến và họ đều thất vọng vì không ai khác ngoài Avatar là ban nhạc mở màn cho cả hai mặt của đĩa này ( được biết đến dưới cái tên The Pirate Album). Cũng trong khoảng thời gian này, những sáng tác của Jon bắt đầu có sự thay đổi khi anh chuyển đề tài sang viết về những cơn ác mộng kỳ lạ. Và cùng với sự thay đổi của âm nhạc, cả ban nhạc cũng đã thay đổi theo. Avatar được Dan Johnson của hãng Par Records tiếp cận. Họ cùng nhau ghi âm và phân phát gần 1000 bản của đĩa 45 vòng City Beneath the Surface . Sau đó, Dan Johnson cùng Avatar quay lại studio để làm việc cho một album trọn vẹn. Thời gian ghi âm này kéo dài trong hai ngày và ban nhạc bắt kịp với 15 ca khúc, được chia làm hai album khác biệt. Cái đêm trước khi album đầu, Sirens, được đưa vào in ấn , anh em Oliva nhận được một cú điện thoại từ Johnson. Jon nhớ lại đêm đó: "Chúng tôi đổi tên vào đêm trước khi đĩa hát được đưa vào in. Tôi nghĩ đó là vào khoảng 11 giờ đêm, vợ chồng tôi và vợ chồng Criss đang ngồi quanh bàn ăn trong bếp và chi bài ,tất cả đều bất ngờ khi nhận được cú điện thoại của Dan "Nghe này, chúng ta gặp rắc rối rồi. Có một ban nhạc ở châu Âu tên là Avatar doạ sẽ kiện các anh nếu như chúng phát ta hành đĩa. Anh cần phải đổi tên ban nhạc, và phi làm điều đó ngay bây giờ vì ngày mai chúng ta làm đĩa rồi." Chúng tôi ngồi lại và viết cái tên Avatar lên mặt sau của một tấm poster lớn...và Criss nói, "Hãy đặt một chữ S lớn (như KISS) vào trước Avatar, và nó trở thành SAVATAR, nghe nó thật giống như tên của một con khủng long xấu xí nhưng chúng tôi thích cách viết của nó. Và sau đó cuối cùng, trong số chúng tôi, tôi không nhớ rõ là ai, nói, "Bỏ chữ R đi và thêm GE vào", thế là thành 'SAVATAGE.' Thật hợp lý, không phải 'SA-VA-TAGE,' nhưng là 'SAVATAGE,' giống như 'SAVA' cho Savage và 'TAGE' cho cái gì đó muốn hiểu thế nào cũng được. Kể từ lúc đó chúng tôi là Savatage."

Sirens (1983) được chính thức phát hành dưới cái tên mới của ban nhạc là Savatage. Album nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt, và vì thế ban nhạc được hãng Atlantic Records mời diễn mở màn cho nhóm Zebra trong một show diễn tại Mahaffey Theatre. Chính buổi diễn này đã tạo ra cho Savatage sự chú ý từ phía các nhà quản lý của hãng Atlantic. Họ đã đặt vấn đề với ban nhạc và sau đó cử nhà sản xuất Rick Derringer tới Morrisound Studios để ghi âm cùng ban nhạc. Par Records đồng ý giải phóng Savatage khỏi hợp đồng để họ có thể ghi âm với Atlantic, nhưng phải sau khi họ phát hành The Dungeons Are Calling (1984) để chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Đây là lý do tại sao album này có độ dài rất ngắn, chưa đến 30 phút. Atlantic sửa sang những băng demo của Derringer và đến cuối năm 1983 đã chính thức ký hợp đồng với Savatage trong đó Robert Zemsky là người quản lý của họ. Tháng 11/1984, ban nhạc tới Bearsville Studios để ghi âm Power of the Night ( phát hành năm 1985 ) với nhà sản xuất danh tiếng Max Norman. Trong chuyến lưu diễn "Monsters of the Universe" năm 1985, ban nhạc đã có sự thay đổi đội hình lần đầu tiên trong rất nhiều lần sau đó. Do những khác biệt trong phong cách âm nhạc, tay bass Keith Collins đã được thay thế bằng một người khác cũng sinh ở Florida, Johnny Lee Middleton (7/5/1963) lúc đó đang chơi cho một ban nhạc có tên là Lefty, anh gia nhập Savatage vừa đúng lúc ban nhạc đi London để ghi âm album Fight for the Rock. Ban nhạc đã có một lễ Giáng sinh thật gian khổ, phải có mặt tại London trong suốt những ngày nghỉ và chung sống trong một căn hộ trên đường Baker. Những người quản lý đã không hoàn toàn xứng đáng với sự tin cậy của họ và đã làm khó dễ cho ban nhạc cũng như quá trình thu âm. Chất liệu của album này gồm có những thứ mà Jon đã viết cho dự án solo của mình lúc đầu. Một vài trong số đó đã được dự định giành cho các nghệ sỹ khác thu âm, nhưng cuối cùng những người quản lý đã quyết định rằng họ muốn Savatage ghi âm chúng trong Fight for the Rock. Jon không bao giờ thực sự hài lòng với cách mà album này được hoà âm, nhưng anh vẫn thừa nhận chất nhạc của nó khá hay với những ca khúc như 'Day After Day' hay 'Wishing Well' và cho dù anh không nghĩ rằng album này xứng đáng với Savatage trong sự nghiệp của họ, thì Jon cũng coi nó như một kinh nghiệm tốt.

Ban nhạc lần đầu tiên lưu diễn châu Âu với tư cách là ban nhạc mở màn cho Motorhead. Sau tour diễn này, Jon đã được tiếp xúc với nhà sản xuất/ nhà sáng tác Paul O'Neill, người đã tới giúp ban nhạc trong album kế tiếp Hall of the Mountain King (phát hành năm 1987). Cũng trong thời gian thực hiện Hall of the Mountain King, ban nhạc đã thử vận trong thế giới video ca nhạc. Do ngân quỹ đã lớn hơn, ban nhạc đã tới khu hang động Howe với một kịch bản được Paul viết để quay video-clip cho ca khúc "Hall of the Mountain King."Album này cũng bao gồm cả bản hoà tấu đầu tiên của ban nhạc, đó là "Prelude to Madness". Với album này, ban nhạc được chọn làm khách mời của chương trình MTV "Headbanger's Ball."

Savatage lại lên đường, lần này với Dio và Megadeth. Jon và Dave Mustaine của Megadeth đã gặp phải đủ thứ rắc rối trong chuyến du diễn này. Họ thường xuyên lẻn ra ngoài uống rượu và trong một cuộc thi xem ai tửu lượng cao hơn, Dave đã trở về với bộ mặt tái mét, và người ta phải gọi bác sỹ đến rửa ruột cho Dave vì anh ta đã bị ngộ độc rượu. Một đêm khác, sau khi đã uống bét nhè, Jon mang một chiếc ghế lên giường ngủ trong khách sạn và ngồi vào đó với một cái chao đèn chụp trên đầu, trong lúc Dave xoay sở để đánh ngã anh. Dave vớ lấy cái điện thoại và ném nó vào Jon, đáp lại, Jon tóm lấy anh chàng Dave đang lèm bèm và nện anh ta xuống sàn. Dave vừa khóc vừa tháo chạy, và Savatage không được phép chơi vào đêm kế tiếp. Mọi thứ đã không còn kiểm soát được, tour diễn kết thúc trước thời hạn và Jon phải đi cai nghiện.

Sau khi Jon phục hồi sức khoẻ, ban nhạc bắt đầu ghi âm Gutter Ballet. Rất nhiều ca khúc trong album Jon đã viết trong khi cai nghiện, gồm có "Thorazine Shuffle" và "Mentally Yours." "Gutter Ballet" là một trong số những ca khúc cuối cùng được ghi âm. Nhà quản lý Jon Goldwater đưa cho Jon vé để đi xem vở nhạc kịch "The Phantom of the Opera" của nhà soạn nhạc thiên tài Andrew Lloyd Weber và Jon đã mê mẩn vở nhạc kịch này. Tràn đầy cảm hứng, anh tới ngay studio trên đường từ nhà hát về, ngồi xuống và soạn ra phần nhạc cho "Gutter Ballet" trên cây đàn piano. Mãi tới sau này, vẫn có hai tựa đề có thể chấp nhận cho album: "Hounds of Zaroff" và "Temptation Revelation." Jon thích ý tưởng gọi nó là "Temptation Revelation" nhưng sau khi "Gutter Ballet" được viết xong, anh hiểu rằng thật hợp lý khi đổi tên nó. Để quảng bá cho "Gutter Ballet", năm 1990 Savatage đã lưu diễn thế giới trong vòng chín tháng và mở màn cho những nhóm như Testament và King Diamond. Ban nhạc tiếp tục thực hiện video cho hai ca khúc "Gutter Ballet" và "When The Crowds Are Gone".

Sau thành công vang dội của Gutter Ballet, ban nhạc hiểu rằng phải làm một điều gì đó lớn lao để vươn đến đỉnh cao. Trong lúc ở nhà Paul O'Neill, Criss tìm thấy bản copy của một dự án mà Paul đã viết năm 1979. Criss ngỡ ngàng trước ý niệm này và đề xuất nó sẽ là ấn bản kế tiếp của Savatage. Bởi vì ban nhạc đã có dư dật các chất liệu và vẫn tiếp tục sáng tác trong quá trình ghi âm nên album này phải mất 9 tháng mới hoàn thành. Jon đã đóng góp rất nhiều cho album này, ngoài việc sáng tác, chơi keyboard và hát, anh còn chơi trống trong một số ca khúc, bao gồm "Jesus Saves" và "Can You Hear Me Now." Streets cuối cùng đã được phát hành vào năm 1991, nhưng chỉ có 16 trong số 26 ca khúc đã được dự kiến ban đầu được sử dụng. Streets cũng nổi bật với ca khúc mà Jon cho là "bài hát mà tôi ưa thích nhất trên thế giới rộng lớn này, ngoại trừ 'Hey Jude'"- đó là "Tonight He Grins Again." Video của hai ca khúc "Jesus Saves" và "New York City Don't Mean Nothing" được quay nhưng chỉ có "Jesus Saves" được phát hành.
Viện dẫn là mình đã đạt đến đỉnh cao của sự nghiệp âm nhạc với việc phát hành Streets và cũng do có vấn đề với thanh quản, Jon chính thức rút lui khỏi cưng vị ca sỹ chính của Savatage sau tour diễn của album này kết thúc vào năm 1992. Việc rút lui khỏi cương vị ca sỹ chính đã cho phép Jon có thể giành nhiều thời gian hơn cho việc tập trung vào một số dự án đã được phát triển trong thời gian gần đó, gồm có "Romanov" và Doctor Butcher. Jon vẫn giữ một vai trò rất quan trọng trong Savatage trong quá trình sáng tác và ghi âm album Edge of Thorns (phát hành năm 1993) , và giúp đỡ ban nhạc lựa chọn ca sỹ mới Zachary Stevens ( cựu thành viên nhóm White Witch ). Jon đã viết và chơi nhạc trong mọi ca khúc của album này, cũng như là nhà đồng sản xuất cùng Paul O'Neill. Đây lại là một thành công lớn nữa với những ca khúc xuất sắc như "Edge of Thorns","All That I Bleed" và bản ballad acoustic "Sleep". Trong cùng thời kỳ này, Jon, Paul và Bob Kinkel (đã từng dính dáng với gia đình Savatage trong một vài tư cách khác nhau kể từ năm 1987) đã cùng sử dụng tài năng của họ để làm việc cho một dự án khác nữa. "Romanov," được viết bởi Paul O'Neill, là một vở kịch theo kiểu sân khấu Broadway kể về những ngày cuối cùng của gia đình Hoàng gia xấu số đã từng cai trị nước Nga. Jon, Bob và Paul đã soạn nhạc cho ấn phẩm cho đến giờ vẫn chưa được phát hành này. Hiện giờ nó đang nằm trong tay Pace Theatrical Group và đã qua vài lần soạn lại.
Vào ngày 17/10/1993, gia đình Savatage đã phải chịu đựng một mất mát thảm thương. Criss Oliva lúc đó đang lãnh đạo một festival nhạc rock có tên "Livestock" tổ chức gần Zephyr Hills, Florida, phía Bắc Tampa. Sáng sớm hôm đó, xuôi dưới xa lộ hai làn đường, một tay lái xe say rượu đã cố gắng vượt qua một xe tải kéo rơmoóc , nhưng thay vào đó lại đụng vào xe của Criss và vợ anh, Dawn. Dawn đã may mắn sống sót nhưng Criss đã ra đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại. Ca khúc cuối cùng mà anh vừa ghi âm là "Shotgun Innocence."

Criss, trưởng thành cũng giống như anh trai của mình không hề qua một lớp nhạc chính quy nào nhưng đã khiến người ta phi thán phục bởi tài năng khác thường của mình từ khi còn rất trẻ. Steve Wacholz nhớ lại rằng Criss "chi trên cơ tất cả các tay guitar khác - theo đúng nghĩa đen từ lúc mới 14 , 15 tuổi". Năm 17 tuổi, anh nẫng gọn giải thưởng lớn trong một cuộc thi ở Tampa bằng cách chơi lại "Eruption" của Van Halen một cách mãnh liệt đến mức "quai hàm của Eddie Van Halen cũng phải trễ xuống". Các fan đã đánh cắp cây đàn guitar của anh sau một buổi diễn trong câu lạc bộ ở Florida và kể từ đó nó biệt tăm luôn.
Jon nhận xét: "Criss là một nhạc sỹ vô cùng tâm huyết . Cậu ấy làm được những điều mà đối với tôi sẽ là quá sức : chơi guitar trong năm, sáu đến tám giờ đồng hồ một ngày. Gần như ngày nào cũng thế. Đó là cuộc đời của cậu ấy. Hơn tất c những thứ khác. Thật kinh ngạc là cậu ấy chẳng bao giờ quan tâm đến nhạc lý cả. Cậu ấy hoàn toàn tin tưởng vào thích giác, xúc cảm của cậu ấy và cậu ấy có sức sáng tạo khác thường. Đối với tôi cậu ấy như là Mozart vậy. "
Chris Caffery nhận xét : "Âm thanh guitar đặc biệt của anh ấy phần lớn là do đôi tay anh ấy tạo nên. Không quan trọng là anh ấy dùng loại ampli nào. Tôi càng già dặn và càng có nhiều kinh nghiệm thì càng nhận thức được rằng anh ấy là một tay guitar giỏi đến không thể tin được. Anh ấy thật tuyệt vời, không bao giờ chơi lỗi cả. Nếu như có mắc lỗi thì anh ấy sửa nó tự nhiên và khéo đến nỗi không ai nhận ra rằng anh ấy đã chơi lỗi".
Nhà sản xuất Paul O'Neill công nhận - và với quan điểm này thì anh không đơn độc "Criss là người tử tế nhất mà chúng ta có thể hình dung. Anh ấy đối xử với mọi người theo cách mà anh ấy muốn người ta đối xử với mình. Mỗi lúc trong phòng thu, tôi lại tự hỏi mình câu hỏi : Criss sẽ phát triển thêm những gì vào các ca khúc này, và những ca khúc nào ta không nên viết vì thiếu sự bổ sung khéo léo của anh ấy ? "
Criss được mai táng ở Curlew Memorial Gardens , Palm Harbor, vài dặm về phía Bắc Clearwater.

Sau một thời gian tạm nghỉ rất ngắn do cái chết bất ngờ của Criss , Jon quyết định rằng việc duy trì ban nhạc sẽ là cách tốt nhất để giữ gìn những kỷ niệm của cậu em trai Criss sống mãi và cùng các thành viên trở lại studio để tiếp tục làm việc cho ấn phẩm tiếp theo của ban nhạc, Handful of Rain. Tay bass Johnny Lee Middleton mặc dù choáng váng trước cái chết của Criss - người bạn thân nhất của anh - nhưng cũng đã nhanh chóng lao vào làm việc vì anh muốn biến tên tuổi của Criss trở nên "vĩ đại như Randy Rhoads (tay guitar quá cố của Ozzy Osbourne, người cũng qua đời khi đang ở độ chín của tài năng do tai nạn máy bay)". Vị trí của Criss được thay thế bởi người bạn của anh là Alex Skolnick (trước đây từng chơi cho Testament và cùng với Eric Peterson tạo nên một bộ đôi guitar vào hàng cự phách). Chính lối chi mạnh mẽ và đầy xúc cảm của Alex đã góp phần biến album này thành một tuyệt tác. Trình diễn một mình trong rất nhiều phần thu âm của album, Jon đã chơi keyboard, trống, bass và guitar đệm cho phần lớn album này. Album được phát hành vào năm 1994 bao gồm cả một tặng vật cảm động giành cho Criss Oliva quá cố, dưới hình thức một ca khúc có tên "Alone You Breathe." Một ca khúc khác trong album này "Chance," đã cho thấy sự thử nghiệm lần đầu tiên của ban nhạc trong việc hát đối âm phức tạp. Tiếp theo việc phát hành album là một chuyến lưu diễn thế giới trọn vẹn lên đến đỉnh cao vào ngày 13/11/1994 ở Tokyo, Nhật Bản. Buổi diễn này đã được ghi âm vào album live tương lai của Savatage (Final Bell hay còn được gọi là Ghost In The Ruins) và cuốn video được gọi là Japan Live '94. Nó nổi bật với sự trở lại của Jon ở cương vị ca sỹ (trong bn song ca "Gutter Ballet" với Zak) lần đầu tiên trong một album của Savatage kể từ đĩa Streets. Nhưng cũng phải đến năm 1995 thì Jon mới quyết định chính thức trở lại Savatage trong vai trò đầy đủ của mình. Ban nhạc cũng đồng thời bổ sung bộ đôi guitar Chris Caffery (cũng chính thức trở lại Savatage lần đầu tiên từ năm 1990) và Al Pitrelli, tay trống Jeff Plate cũng gia nhập ban nhạc sau khi Steve Wacholz bỏ nhóm . Ban nhạc trở lại với quy cách nhạc rock opera của mình, họ ghi âm album mạnh mẽ Dead Winter Dead thuật lại cuộc nội chiến phi nghĩa và bi thảm ở Bosnia và Serbia những năm đầu thập niên 90 . Album này đã sản sinh ra ca khúc "One Child" và bản hoà tấu "Christmas Eve/Sarajevo 12-24," - một đĩa đơn lọt vào bảng xếp hạng tại các đài phát thanh trên khắp nước Mỹ, và đã làm nảy ra ý tưởng thành lập một ban nhạc song song tồn tại với Savatage đó là Trans-Siberian Orchestra. Trans-Siberian Orchestra (TSO) được coi là một nhánh phụ của Savatage được dẫn dắt bởi Paul, Jon và Bob. Một vài thành viên then chốt nữa bao gồm các thành viên của Savatage là Al Pitrelli, Jeff Plate, Johnny Lee Middleton, Chris Caffery và Zak Stevens. TSO cũng bao gồm sự phân vai quay vòng của những nhà soạn nhạc ở Broadway và rất nhiều ca sỹ khác. Những dạng ý niệm đã từng được Savatage sử dụng giờ đây lại được tiến triển với Trans-Siberian Orchestra. Ấn bản đầu tiên của TSO , Christmas Eve and Other Stories, được phát hành lần đầu vào năm 1996, được chứng nhận đạt đĩa vàng bởi RIAA vào năm 1998. Album tiếp theo,The Christmas Attic, còn thành công hơn Christmas Eve khi đạt được đĩa Vàng vào mùa Giáng sinh 1999.

Năm 1997, Savatage phát hành album The Wake of Magellan tại châu Âu và phát hành tại Mỹ năm 1998. Đây được đánh giá là một album ý niệm (concept) còn hoàn thiện hơn cả Dead Winter Dead. Trong năm 1998, nhóm đi lưu diễn liên tục ở Mỹ, Nam Mỹ và châu Âu. Năm 1999, tạm rời khỏi những chủ đề Giáng sinh,TSO thực hiện album thứ ba có tựa Beethoven's Last Night, song song với album này là một chưng trình truyền hình đặc biệt "The Ghosts of Christmas Eve," được quay và phát hình rộng rãi trên toàn quốc. Năm 2000, Beethoven's Last Night được phát hành, đánh dấu thành công mới của TSO. Tuy nhiên, với Savatage lại có những xáo trộn, Pitrelli rời nhóm và gia nhập Megadeth, tiếp đó Stevens cũng rời nhóm để bắt đầu sự nghiệp solo. Ban nhạc kết thúc hợp đồng với Atlantic và bắt đầu ghi âm với Nuclear Blast America. Thay thế cho Pitrelli là Jack Frost, ngoài ra Savatage còn bổ sung thêm ca sỹ Damond Jiniya. Năm 2001, Savatage phát hành Poets & Madmen, album có sự góp mặt của Jon lần đầu tiên kể từ năm 1991 ở cương vị ca sỹ chính tuy nhiên rất tiếc đây chỉ là một thành công mờ nhạt...Nhưng những người hâm mộ nhiệt thành của Savatage vẫn đang gửi trọn niềm tin vào ban nhạc và ủng hộ hết mình cho những bước đi mới của Savatage trong thế kỷ mới.

VietrocK
12-02-2002, 05:36 PM
[center:57b6bdd42a][glow=olive:57b6bdd42a][color=yellow][size=7][u][i][b]Nile[/b][/i][/u][/size][/color][/glow:57b6bdd42a][/center:57b6bdd42a]

[img]http://www.deathmetal.com/nile/nilelo~1.gif[/img]

Nếu như không có con sông Nile, nền văn minh Ai Cập cổ đại sẽ không bao giờ được rực rỡ đến thế và chúng ta sẽ chẳng bao giờ được xem phim về các xác ướp (có xác còn lưu lại đến giờ, đi lễnh nghễng ngoài đường !!!). Không chỉ mang đến nguồn nước cho vùng đất khô hạn này, Nile còn mang dến một thứ quí giá hơn nhiều: phù sa. Một nguồn cung cấp nước chính cho Nile là hồ Tana ở vùng núi của Etiopia. Mùa xuân đến, mưa nhiều, nước ở hồ Tana đổ xuống Ai Cập qua sông Nile và trên đường đi, nước cuốn theo nhiều chất phù sa. Mỗi năm, sông Nile dâng nước lên 1 lần và làm ngập vùng thung lũng, khi rút nước xuống, sông Nile để lại 2 bên bờ sông những lớp đất màu mỡ và con người có thể trồng trọt ngay giữa sa mạc. Tuy nhiên vùng đất có thể trồng trọt này cũng bé tí, chỉ dài khoảng 6 dặm dọc theo sông Nile và mảnh đất bé bằng cái … quần đùi đó phải nuôi cả dân tộc vì vậy việc sử dụng cần hết sức khéo léo.

Vai trò của Nile trong death metal chưa thể nào sánh với dòng sông Nile nhưng "chưa" không có nghĩa là "không". Không hiểu các rocker khác nghĩ thế nào nhưng bạn bè tớ chả ai thích Nile cả dù tớ cố công thuyết phục. Nile được đánh giá cao trong các review và được xem như một nhóm death metal sẽ khơi dậy lại dòng chảy của death, vốn đang có vẻ chững lại. Thật sự, Nile khơi dậy dòng death trong cá nhân tớ, tớ từ bỏ death đã khá lâu và đang vật vã trong doom, gothic & prog. Nile làm tớ lục tủ đĩa nghe lại Demolition Hammer, Malevolent Creation, Deicide…

Dòng chảy của Nile khi bắt nguồn từ các vùng núi vốn chảy rất xiết (vì thế mới kéo theo được phù sa) nhưng khi đến Ai Cập thì chậm hẳn lại. Nhóm Nile thì trái lại, họ khởi đầu khá chậm chạp. Thành lập năm 93, năm 94 có single demo, đến năm 95, Nile mới có được đĩa đầu tiên nhưng không chưa đủ sức là album mà chỉ là EP có tên Festivals Of Atonement. Năm 97, lại một EP nữa (chỉ có 3 bài ) là Ramses Bringer Of War. Năm 98, họ mới đủ sức tung ra 1 album Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka. Năm 2000, chào mừng thiên niên kỉ mới, Nile tung ra Black Seeds of Vengeance. Tuy nhiên, chỉ trong vòng 2 năm với 2 album đó đã đưa Nile lên vị trí rất cao trong dòng death.. Phù sa đã đủ để kết tinh thành hoa trái. Hiện nay, In Their Darkened Shrines, album thứ 3 của Nile đang chuẩn bị phát hành. I’m longing for this, man…Trở lại với tiểu sử của Nile, năm 93, 3 gã trai trẻ từ South Carolina là Karl Sanders, Chief Spires, Pete Hammoura tụ họp lại để lập ban nhạc, Karl cầm guitar, Chief cầm bass còn Pete cầm … dùi. Nhiệm vụ trước micro được chia sẻ giữa Karl và Chief. Có 1 “phê bình gia “đã viết : rắc rối đối với death metal là thiếu sự độc đáo, mới mẻ (originality), có vẻ mọi band nhạc đều cảm thấy hài lòng khi chơi y chang như Morbid Angel. Ý kiến này chắc sẽ gây nhiều tranh cãi nhưng cá nhân tôi nghĩ có phần đúng. “Phê bình gia” viết tiếp : “ Nile xuất hiện để thay đổi điều đó”. Dĩ nhiên, giống như các ban death metal khác, Nile cũng đã học tập nhiều từ Morbid Angel, nhưng ngoài các cú riff mạnh mẽ, giọng hát gầm gừ, Nile còn mang đến được nhiều hơn thế. Trước hết là về đề tài, nếu quá chán ngán với máu me, xác chết, mổ bụng lột da, Nile sẽ mang lại không khí mới với đề tài cũng không kém phần “hung dữ”. Cũng xác chết, cũng lột da nhưng là để làm ...xác ướp và chủ đề nghiêng về các vị thần của người Ai Cập. Không chỉ dừng lại ở đề tài, Nile tìm cách đem các nhạc cụ, âm hưởng của Ai Cập vào âm nhạc và tôi nghĩ ở một mức độ nào đó, họ đã thành công (tuy rằng chưa rõ rệt) qua đoạn intro ( hầu hết các bài), giang tấu (Wrought), outro(Extinct) hoặc trọn bản (Die Rache Krieg Lied Der Assyriche) ( tôi nghĩ là rất khó mang các nhạc cụ dân tộc vào death metal vì đặc thù của dòng nhạc này, Sepultura done a goodjob nhưng tớ chả thích nhạc Brazil dù tớ khoái cái màn carnival hehehe). Năm 95, Nile bắt đầu lưu diễn ở đông nam nước Mĩ hổ trợ cho các đàn anh như Obituary (my used-to-be-fav-band), Deicide, Broken Hope, Six Feet Under … Danh tiếng của Nile nhanh chóng nổi như cồn tại… quê nhà (thú thật là tôi không biết thêm một nhóm nào xuất thân từ South Carolina nữa). Năm 96, Nile tiếp tục dạo bước ở khu đông nam Mĩ, lần này là với đàn anh Incantation. ( Tôi chưa nghe qua Incantation, chỉ biết đến nhóm này khi một lần search trên Internet về đĩa Incantation của flutist Tim Wheeler). EP Ramses Bringer Of War được phát hành bởi Visceral Productions ( giống như HT Productions của anh Đan Trường í mà). Album trọn vẹn đầu tay đang được thai nghén thì Visceral Productions sập tiệm cuối năm 1997. Relapse bước vào “giơ đầu chịu báng” sau khi đã nghe và chứng kiến Nile diễn live tại Expo of the Extreme ở Chicago. Relapse kí hợp đồng với Nile và phát hành Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka. The sandstorm began to rage…


[u][b]Festivals of Atonement[/b][/u]

[img]http://nile-catacombs.net/site/images/festivals_cover.jpg[/img]

Divine Intent
Khúc intro của Divine intent làm tôi nhớ đến Type O Negative khi cover lại bản Black Sabbath, cảm giác trong một căn phòng hay đúng hơn là 1 cái giếng, xung quanh toàn là bóng tối, xa thẳm là những tiếng rên, không khí đặc quánh và khó thở với tiếng fuzz guitar chậm chạp. Đoạn intro này sử dụng một số nhạc cụ khá lạ, không rõ có phải có nguồn gốc từ Ai Cập không. Cảm giác của sludge metal mau chóng được xoá đi với drum và guitar thay đổi tempo đột ngột “ ta trỗi dậy trong chói lọi, vươn tay lên bầu trời, bước theo quờ quạng bởi vì ta biết, mọi thứ sẽ được lộ ra trong ánh nắng. Ta thần phục trước thần linh, chờ đợi sự thiêu đốt. Ta khẩn cầu, hướng mắt về phía Mặt trời đang rừng rực. Ta không muốn quay mặt đi dù lửa mặt trời đang cháy bỏng đôi mắt bởi vì trong thống khổ, ta trở thành thần thánh. Chìm sâu trong ánh sáng chói loà mãnh liệt, ta cúi rạp trước thần Re, người đã lấy đi cái nhìn, đôi mắt của ta. Dòng nước mắt trôi ra như suối, ta lại trở về với cát bụi, đôi mắt được thiêu đốt thành than, ta không còn thấy vị thần nào nữa vì chính ta đã trở thành thần thánh”. Trong bài hát này có nhắc đến thần Re, đây là vị thần mặt trời, mình người, đầu chim ưng, trên đội một chiếc đĩa (hơi giống đĩa cd ) hình mặt trời. Re là một vị thần rất quan trọng vì vậy các pharaoh thường xưng mình là “con trai thần Re”. Re cũng là cha của Hathor và Sekhmet, các thần sau này còn được nhắc nhở nhiều trong các bài hát của Nile và trong lời của Nile thì Re được viết thành Ra (chỉ là 1 tên gọi khác, như Atum cũng chính là Re)


Black Hand Of Set
Một ca khúc death metal tiêu chuẩn, không có intro và phần lời khá … (không biết phải nói sao), ca khúc này có nhắc đến những kẻ ăn thịt người kiểu như tử thần thực tử và bây giờ, là hậu duệ của cha ông, chúng ta phải traaaaaaaaaaaaaaaaaả thuuuuuuuuù. Cuối ca khúc này có đoạn :

Pierce his Lungs with the stings of Scorpions
Oh Kali
Oh Sekhmet
Oh Dagon

Đó là 1 câu trích trong thần chú của Satan kêu gọi sự huỷ diệt (Invocation Of Destruction) “Oh Kali! Pierce his (her) lungs with the stings of scorpions, Oh Sekhmet! Plunge his (her) substance into the dismal void, Oh mighty Dagon!”

Sekhmet như đã nói ở trên là con của thần Re, thường được mô tả là nữ thần có đầu sư tử cái. Sekhmet có nghĩa là “kẻ mạnh mẽ”, và giữ vai trò đôi mắt của thần Re. Sekhmet thường được nhìn nhận như một vị thần ác chính vì vai trò này : “đôi mắt của thần Re” luôn mang đến những hình phạt khốc liệt cho những kẻ dám nhạo báng vị thần mặt trời. Sự huỷ diệt của Sekhmet đã che mờ vai trò khác của vị thần này: người chữa bệnh, người che chở bảo vệ. Người Ai Cập cổ đại là những người bác sĩ đầu tiên của nhân loại, họ rút kinh nghiệm từ thực tiễn quan sát các ca bệnh, cả qua những thử nghiệm và sai sót. Những “bác sĩ” này tôn Sekhmet là vị thần hộ mệnh của mình.


Wrought
Một đoạn intro khá réo rắt, nghe như nhạc dành cho các cô gái múa bụng. Bản nhạc có tempo trung bình, các cú riff nghe rất quen thuộc mà không biết nên nhớ tới ai. Không rõ có liên hệ gì giữa tựa bài hát với phần lời vì tớ chẳng thấy ăn nhập gì hết. Lời bài hát có nhắc tới Nanna, đây là vị thần mặt trăng, “cha của Zonie và huynh trưởng của những kẻ lang thang”. Vị thần này có râu dài, tay cầm chiếc đũa phép (kiểu như Harry Potter, chắc thế !) màu xanh da trời. Các vị thần được xếp ngang với Nanna là Inanna, Marduk, Nebo, Nergal (ca sĩ chính của Behemoth đã lấy tên này làm tên mình), Ninib, Shammash. Đây là 7 vị thần cai trị 7 ngôi sao trong Thái dương hệ. Thần thoại của vùng Trung đông bao gồm sự đan xen giữa nhiều nền văn minh: Lưỡng Hà (Mesopotamian), Babylonian, Sumerian, Assyrian, Phoenician, Ba Tư, Thổ, Canaanite, Chaldean, Syrian, Hittite… vì vậy có rất nhiều dị bản. Nhà văn HP Lovecraft, như Tolkien, cũng rất có ảnh hưởng tới các nhóm nhạc rock (đặc biệt là Metallica), cũng nhiều lần đề cập đến mớ lùng bùng các vị thần này khi nhắc tới Necronomicon của Abdul Alhazred (biệt danh Mad Arab, một trong 2 thành viên của Goat Thrower cũng lấy biệt danh này, không hiểu sao không tìm được thông tin gì thêm về nhóm Goat Thrower). Quyển sách này, theo nghiên cứu, là thật sự có tồn tại chứ không phải chỉ là một tác phẩm mà Lovecraft tưởng tượng ra. Lý thuyết mà Lovecraft đặt ra, tuy có vẻ chỉ để giải trí, nhưng đã được so sánh với Aleister Crowley …

Immortality Through Art/Godless
Cũng như giữa sa mạc khô cằn có mảnh đất trồng trọt bé tẹo kia, Nile thỉnh thoảng có những bản hoà tấu đàn thùng nghe như ru, ở EP Festivals of Atonement là track 4 Immortality Through Art/Godless, ở Black Seed là track 5. Cần lưu ý là đĩa In the beginning (đang có bán ở SG) đã có sai sót trong bìa đĩa . Đĩa nhạc chỉ có 8 track nhưng bìa đĩa in 9 track. Nguyên nhân chính là track 4 này. Trong EP Festivals of Atonement, track 4 là Immortality Through Art/Godless (Immortality Through Art là 1 bản instrumental và đã được ghép vào với Godless như Tracy’s song/ Only time will tell của Nelson ngày xưa). Nhưng đĩa nhạc lại in thành 2 track riêng biệt, vì vậy, từ track 6 trở đi, các bạn cần giảm đi 1 số thứ tự thì mới đúng tên bài hát.

Mặc dù nhắc tới vô số thần thánh, tới Godless thì Nile phủ nhận tất cả “chẳng tin tưởng vào thần nào, chẳng có vị thần giả tạo hay dối trá, chẳng có giáo điều nào có thể nô dịch được ta. Những lời của ta là sự thật, ta được tẩy trần trong ngọn lửa, ta không hề sợ sự trừng phạt báo thù nào”. Nile còn cho cái đầu của xác ướp vua Ramses gãy rời ra, lăn lốc lốc trên sàn, nát vụn…


Extinct
Đoạn mở đầu của Extinct khá hoành tráng, như soundtrack cho một bộ phim khoa học giả tưởng về nền văn minh trên các hành tinh lạ, về các phi thuyền trôi lờ lững trong không gian… Khoảng 4 phút đầu, mọi thứ đều có vẻ chậm chập và một lần nữa, cái cảm giác đặc quánh. “ Khi ngủ, tôi mơ về cái chết, sục sôi với giận dữ, cơn giận dữ cực độ đã làm nhoà tầm nhìn của tôi, nhưng điều đó có ý nghĩa gì nữa không khi yên bình chỉ có trong cái chết. Trong thiên đường đã đánh mất, tôi mơ về sự huỷ diệt” Phút thứ năm bắt đầu chứng kiến sự cuồng nộ kiểu Cannibal Corpse nhưng câu guitar chủ đề vẫn còn nghe được rất rõ ràng.



[img]http://nile-catacombs.net/site/images/visuals/oldphotos/hor_34.jpg[/img]


[u][b]Ramses Bringer of War[/b][/u]


[img]http://nile-catacombs.net/site/images/ramses_cover.jpg[/img]

Howling Of The Jinn
Căng thẳng ngay từ đầu !!!

Nafs al Ammara
Fana Azif
I am the Infidel
Fiendish Insects encircle Me
Howling Winds Wraiths
Surrounding me disembodied Ka

Nafs có nghĩa là linh hồn, tâm linh, bản ngã. Một số học giả đã chia Nafs thành 7 loại, 7 tầng lớp nhưng thông thường, Nafs được nhìn nhận thành 3 loại từ xấu tới tốt là : Nafs al-Ammara Bissu - phần hồn thúc đẩy những điều tội lỗi; Nafs al-Lawwama - phần hồn trách mắng, đổ lỗi, ví dụ như không ít người trong chúng ta đã tự trách bản thân tại sao lại yêu cô này (cô không yêu mình) mà lại không yêu cô kia (cô yêu mình) hoặc tại sao thích nhạc rock mà không yêu teenpop (!!!)và Nafs al-Mutma'inna (phần hồn yên bình, cảnh giới tối cao ). Karl (sáng tác tất cả các ca khúc cho nhóm) đã chọn phần Nafs xấu xa nhất để khởi đầu bài hát. “Tiếng gào thét của đám Jinn” khiến tớ dù có lời trước mặt cũng khó khăn lắm mới dò theo được. Đảm trách phần vocal cho Nile không chỉ là Karl hay Chief mà là cả 3 thành viên và hình như ca khúc này là dịp hiếm hoi để nhận ra điều đó. Vậy Jinn là cái khỉ gì? theo kinh thánh của đạo Hồi, con người được Thượng đế tạo ra từ đất sét còn jinn được tạo ra từ ngọn lửa không khói! Jinn có thể hiểu như loài quỉ xấu xa luôn đeo đuổi và làm hại con người. Jinn không phải là những thiên thần bị đày mà chỉ có …” tổ sư” của jinn là Iblis mới là thiên thần bị đày. Iblis được xem như hình ảnh của Satan trong đạo Hồi. Số là khi Allah tạo ra con người và sai khiến các thần phải qui phục và tôn sùng con người. Chỉ có Iblis là bất tuân thượng lệnh với lí do con ngưòi chỉ là thứ được tạo ra từ bùn đen. Thế là Allah ra lệnh Iblis sẽ bị nguyền rủa. Iblis bèn trả giá: hãy hoãn sự nguyền rủa đó đến ngày những xác chết sống dậy. Allah chấp nhận và tống khứ Iblis chứ không nguyền rủa. Iblis “cám ơn” bằng cách tuyên bố sẽ dụ dỗ những kẻ nào không phải là môn đệ của Allah, những kẻ được Allah chọn hay nói cách khác là đã chọn để đi theo Allah. Allah chấp luôn : “Ngươi không có quyền lực gì với những tín đồ của ta, chỉ trừ những kẻ theo người mà lạc lối, trở thành tội phạm, những kẻ đa thần giáo, và những kẻ làm việc xấu.” Từ đó, có 1 đám jinn sống giữa con người và tìm cách dụ dỗ, làm hại con người. Jinn có loại có cánh, bay giữa không trung, có loại dấu mình trong hình dáng của rắn và chó. Từ “genie” trong tiếng Anh cũng có âm gần giống với jinn và một trong những jinn nổi tiếng nhất lại rất hiền, đó là ông thần đèn của Aladin trong Nghìn lẻ một đêm. Jinn thường tụ tập tại Kaf, một dãy núi theo truyền thuyết bằng ngọc lục bảo.

I can hear the Howling of the Jinn
Echoing in the mountains of Kaf

Lời ca khúc này có thể hiểu là lời của một linh hồn vừa rời khỏi xác thân của mình và nghe được tiếng gọi của muôn ma Hời dắt díu nhau đi (ý thơ Chế Lan Viên, không nhớ rõ nguyên văn). Cái hồn vừa lìa khỏi xác này kinh hoàng nhìn thấy chính thân thể mình đang nằm dưới kia, dòi bọ, côn trùng bắt đầu kéo tới thết tiệc, càng kinh hoàng hơn khi nghe tiếng gào thét, tiếng rú rít của jinn, những âm thanh kinh hoàng này chỉ có những linh hồn của người đã khuất và kẻ điên mới nghe được (không rõ nghe được rồi điên luôn hay điên mới nghe được )

“Disembodied Ka “ là một trong những quan niệm cũ xưa và phổ biến nhất của người Ai Cập về phần hồn, về tâm linh của con người. Người Ai Cập tin rằng mọi vật tồn tại đều có một bản sao vô hình và bản sao đó chính là Ka. Ka bắt đầu khi con người sinh ra và tiếp tục tồn tại sau cái chết “sinh lí”, không chỉ con người mà cả con vật, cây cối, nước, kim loại, đó và cả các vũ khí mà con người tạo ra đều có Ka. Khi con người ngủ, Ka sẽ thoát ra ngoài đi lòng vòng chơi ! Sau cái chết của cơ thể mà Ka trú ngụ, Ka vẫn tiếp tục tồn tại và cũng cần ăn uống vì vậy người ta cần phải cúng tế.

Ramses Bringer of War
Tiếng trống nghe có vẻ thúc giục, muốn đẩy lượng adrenaline trong máu tăng cao. Phần nhạc khiến tớ có thể hình dung ra cảnh một đoàn quân cờ xí ngợp trời đang bước đi (TV mới chiếu Thành Cát Tư Hãn mừ!!!). Bày binh bố trận xong (khoảng 1 phút đầu), 2 bên mau chóng giáp lá cà, uýnh nhau chí tử, khởi đầu bằng tiếng thét xung trận của … Sanders ở giây thứ 25 phút thứ nhì. Vẻ khốc liệt và náo loạn của cuộc chiến được thể hiện khá xuất sắc, có 1 đoạn ngắn giống như Bạch Đằng Giang !!! Ca khúc mô tả vẻ dũng mảnh của vua Ramses khi tung hoành trong chiến trận, vị vua này cưỡi chiến xa, nghiền nát xương sọ của những kẻ hấp hối, cắt lìa tay chân của những xác chết, như một cú tấn công của chim ưng.

Der Rache Kreig Leid Der Assyriche
Không phải death metal nhưng đây là một trong những bản đáng chú ý nhất của Nile, vẻ giận dữ tàn khốc của death vẫn chất chứa trong giọng hát với phần hát đệm là tiếng cầu kinh, thỉnh thoảng là những tiếng cồng chiêng riềng vang. Không thể mô tả nhiều mà nên nghe bản nhạc này sẽ hiểu hơn.

Tuy chỉ có 3 bài hát nhưng tôi nghĩ bố cục của EP này khá hoàn chỉnh và xuyên suốt. hic, hình như ít người nghe và thích Nile quá

[u][b]Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka[/b][/u]


[img]http://www.nile-catacombs.net/site/images/nephrenka_cover.jpg[/img]

Album này đã giúp xác ướp Nile đội bật nắp quan tài, trỗi dậy từ lớp cát sa mạc của vô số nhóm nhạc death metal tầm tầm. Đó là theo đánh giá của nhiều người chứ thật sự tớ chưa được nghe đĩa này! Định mua đĩa này nhưng nghe nói bên Úc, đĩa của Nile chẳng có sale off mà cũng chẳng có second hand, mà brandnew thì đến 29 AUD. Theo tớ nghĩ thì chỉ cần EP đầu là đủ để Nile vươn bàn tay ra khỏi lớp cát rồi Trong album này có cả 3 bản trong EP thứ nhì Ramses Bringer of War. Phát hành đĩa này xong, Nile tất tả ngược xuôi để mọi người biết đến đĩa này. Cuối cùng, Nile được vinh dự tháp tùng Morbid Angel. Karl tuyên bố “ Mỗi khi chúng tôi diễn, chúng tôi chơi với tất cả sức lực của mình, chúng tôi chơi từng nốt nhạc như đó là nốt cuối cùng mà chúng tôi có thể chơi”. Nhờ đó, Nile chinh phục được đông đảo bà con tại Dynamo Open Air năm 99 và nhân tiện đi diễn quanh châu Âu luôn (cùng với Vader, Cryptopsy và Enslaved). Lúc đó một tạp chí đã phóng vấn Karl về album kế tiếp, Karl nói rằng album kế sẽ nhanh hơn, nặng hơn và mang tính sử thi hơn. Anh cho rằng từ Festivals of Atonement đến Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka là một bước nhảy vọt và từ Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka đến album kế tiếp cũng là 1 bước nhảy khác. Lúc trả lời phóng vấn, Karl cho rằng họ đã chơi những bài hát trong Amongst The Catacombs Of Nephren-Ka đã được 1 năm rưỡi trong các chuyến lưu diễn, vì vậy chơi những bài hát đó dễ như …. uống trà! Vì vậy, họ phải viết và tập các bài hát mới. Karl cũng ca ngợi người nghe ở châu Âu “người nghe ở đây thật sự thích metal, ở Mĩ, mọi thứ chỉ theo phong trào, chỉ là mốt nhất thời và mốt thì dễ dàng bị thay thế bởi mốt khác mới hơn. Hiện giờ, mốt ở Mĩ là hardcore nên chúng tôi không được đánh giá cao ở Mĩ, ở châu Âu này thì khác, it’s fucking good”. Nói chung, mọi thứ sẵn sàng và tốt đẹp cho album kế tiếp …

VietrocK
12-03-2002, 03:51 PM
[scroll:bb28ec9ebd][glow=yellow:bb28ec9ebd][color=red][size=7][i][b]METALLICA[/b][/i][/size][/color][/glow:bb28ec9ebd][/scroll:bb28ec9ebd]

[b]Dù muốn hay không, cũng phải công nhận rằng Metallica là một tượng đài sừng sững của ThrashMetal cũng như Metal nói chung...vì vậy chúng ta hãy cùng phân tích về lịch sử sáng tác của ban qua các album từng thời kì nhé. [/b]

[u][b]Kill 'em All (1983) [/b][/u]

[img]http://static.epinions.com/images/newworld/2646/125322-resized180.jpg[/img]

Album này - với hình bìa khá giật gân ( bàn tay đang buông rơi cái búa vào vũng máu ) - là hiện thân của một Metallica trẻ trung, sung sức xong còn hơi "non nớt" và "ngông nghênh". Metallica thời kỳ này sinh hoạt theo đậm chất hippie : ngày ăn uống, nốc bia và ngủ, đêm vác đàn chạy lông bông khắp các câu lạc bộ lớn nhỏ ở quanh Los Angeles, San Francisco, cứ thấy chỗ nào chơi được là quậy tung cả lên, dăm bữa nửa tháng lại trút tất cả đồ đạc lên xe bus đi lưu diễn từ West Coast sang East Coast.

Album đầu tay của Metallica đã làm choáng ngợp cả thế giới metal với những cú riff nghiến rít đầy tốc độ kèm theo là những lời ca đầy ý nghĩa và một thứ năng lượng mà ít có band nhạc nào thời đó có thể chuyển tải được, mặc dù phong cách sáng tác tương tự như Diamond Head và chịu nhiều ảnh hửơng của Motorhead. (xem trong VCD thời kỳ này thấy Metallica trả lời phỏng vấn: James không ngưỡng mộ ai cả, Lars khoái Diamond Head, Dave Mustaine thích Motorhead, còn Cliff thì chọn Black Sabbath cùng ZZTOP). "Kill 'Em All" đầy ắp những chất liệu tươi mới và tuy lời ca thì đều mang đậm chất kích động bạo lực, huỷ diệt giết ***c này nọ nhưng nói chung là không khí của album này vẫn có cái gì đó hơi "nhộn" . Nhạc của Metallica trong album này chưa định hình rõ phong cách thrash mà mới chỉ dừng lại ở speed-metal giống như những đĩa đầu của Anthrax. Hai cây guitar chơi rất sôi nổi và hiếu chiến trên nền bass "găm" dày đặc của Cliff Burton. Tuy nhiên giọng ca của Jaymz chưa đạt lắm ( Vào thời kỳ đầu có lúc Metallica đã định mời John Bush của Amored Saints vào làm ca sỹ ). Với album được thai nghén trong gần 1 năm này, Metallica đã trình làng với một phong cách thật ấn tượng. Mặc dù thời gian này còn chưa hoàn chỉnh về nhân sự nhưng nhưng đã có nhiều bài hát kinh điển cho tới tận giờ như "The Four Horseman". Bài hát này cũng được Dave Mustaine (sau bị đuổi vì tật nghiện rươu) chuyển đổi thành bài "Mechanix" xài bởi band mới Megadeth của hắn ta.

[img]http://www3.airnet.ne.jp/~vzr04461/album/Jump%20in%20The%20Fire.jpg[/img]

Ngay khi mở đầu với bài "Hit the Lights" cả ban nhạc đã mang đến cho người nghe một cơn địa chấn kinh hoàng với tất cả các loại nhạc cụ chơi với âm lượng lớn khủng khiếp. Nhìn chung album này khá đều với một loạt những bài hát đậm "chất" Metallica như "Seek And Destroy", "No Remorse", "Jump in the Fire"... "The Four Horsemen", một sáng tác có sự tham gia của Dave Mustaine, nó đã đưa được không khí chiến trận trên lưng ngựa của thời kỳ Trung cổ bét nhè bởi chiến tranh vào những nỗi ám ảnh về bạo lực trong xã hội hiện đại (By the last breath of the fourth winds blow, Better raise your ears, The sound of hooves knock at your door, Lock up your wife and children now, It's time to wield the blade, For now you have got some company...), "Motorbreath"- một bài hát nói về những kẻ thích sống gấp trên tay lái những chiếc motor phân khối lớn nghe rất đã (Motorbreath, Its how I live my life, I can't take it any other way, Motorbreath, The sign of living fast, It is going to take, Your breath away...) và một viên ngọc không thể không nhắc đến đó là bản bass solo "Anasthesia (Pulling teeth)" do bàn tay ma thuật của Cliff Burton tạo ra nghe rợn cả tóc gáy, nếu ai đã xem Cliff thao diễn đoạn solo này trong "Cliff 'Em All" chắc hẳn còn choáng hơn nữa khi
thấy anh chàng tóc lửa này giày vò cấu xé cây đàn khủng khiếp tới mức độ nào. Quả thật chưa tay bass nào có thể qua mặt được Cliff với "Anasthesia (Pulling teeth)"...Trong khi "Seek and Destroy" là bài tập trung chủ đề chính của album. KEA cũng đánh dấu bước khởi đầu của chuỗi những bài hát phản chiến của Metallica, mà có thể lấy các tác phẩm "For Whom The Bell Tolls", "One", Disposable Heroes"... là ví dụ tiêu biểu. Nhưng trong KEA có lẽ hay nhất là "Anesthesia(Pulling Teeth)", một bản sôlô bass trầm bổng của Cliff Burton .

Bang your head against the stage
Like you never did before
Make it ring, Make it bleed
Make it really sore-----Whiplash

[u][b]Ride The Lightning-1984 [/b][/u]


[img]http://www.musica-imperio.es.org/dicografia_archivos/image004.jpg[/img]

Album thứ 2 của Metallica, phát hành sau KEA một năm. Album này cho thấy Metallica đã bắt đầu bước vào quỹ đạo của một ban nhạc metal chuyên nghiệp. Chuyên nghiệp trong cách thu âm, sản xuất, mix và trong cả cách sáng tác. Cách trình bày bìa của album thể hiện tính mỹ thuật khá hơn so với KEA. "Fire fight with the Fire" - bài số 1 mở đầu bằng tiếng guitar acoustic trau chuốt nhưng đến hồi cao trào lại như một thùng xăng đốt cháy tai người nghe, ngay lập tức người nghe bị hút vào sự cuồng nộ lên đến tột đỉnh và hẳn nhiên là dễ gây shock rồi. Tay nghề sáng tác của các thành viên trong nhóm đã lên rõ rệt với những ca khúc rất rất xuất sắc như "Fade to Black", "For whom the Bell tolls", "Creeping Death"- về sau trở thành những "cây đinh" trong các live show của Metallica. Khó ai có thể quên được màn diễn Fade tại sân bay Tushino (Nga) năm '91 , Bellz năm '89 ở Seattle Coliseum hay Creeping ở Woodstock '99.

[img]http://www.encyclopedia-metallica.com/photos/1985_donnington_Jon.jpg[/img]

Hic, cứ nghe Fade là tôi nghĩ đến cảnh mấy anh Meta nhà ta vừa diễn xong mồ hôi mồ kê nhễ nhại quay vào hậu trường thì đã thấy đạo chích dọn sạch đồ đi đâu mất. Với Bellz, đó là ánh mắt kinh hoàng và đau đớn đến tột cùng của người lính ngước lên nhìn bầu trời xanh lần cuối trước khi chết nhưng chỉ thấy khói súng đen kịt xen lẫn âm thanh gầm gào của những họng pháo tiễn biệt mình (Take a look to the sky just before you die, It is the last time he will, Blackened roar massive roar fills the crumbling sky, Shattered goal fills his soul with a ruthless cry...). Lấy ý tưởng từ ngày Lễ phục sinh và những trận dịch bệnh hoành hoành trong thế giới của các pharaông Ai Cập cổ đại "Creeping death" lại mang đến cho ta cảm giác của một tên đạo sỹ kiểu Imhotep trong The Mummy ban đêm băng qua sa mạc của bình nguyên Ai Cập để đến giết vị Pharaoh mới chào đời (Die ! By my hand ! I creep across the land ! Killing first born man !). Không thể không kể đến "Ride the Lightning" với tâm trạng một kẻ tử tù kinh hoàng khi sắp ngửi thấy mùi da thịt mình cháy khét trên ghế điện...(Flash before my eyes, Now it's time to die, Burning in my brain, I can't feel the flame). Kết thúc album, lại một lần nữa Metallica gây sửng sốt với bản hoà tấu tuyệt mỹ "The call of Ktulu". Bài này được truyền cảm hứng từ các tác phẩm của nhà văn chuyên viết truyện kinh dị HP Lovecraft. Kirk và Cliff lại rất khoái những cuốn truyện của ông lão này, đã cố thuyết phục các thành viên còn lại... và thành công. Đó là tiếng gọi từ một cõi tâm linh bí ẩn sâu thẳm nào đó hay là tiếng gọi từ một nơi rùng rợn giống như địa ngục dưới đáy biển Midian mà Cradle of Filth đã mô tả trong Midians ( 2000 ). Đây là bản instrumental hay nhất của Metallica và có lẽ là một trong những bản instrumental rock xuất sắc nhất. Nhưng có lẽ những bài hát ác chiến nhất phải kể đến "For Whom The Bell Tolls" và "Fade To Black", mà bất cứ ai nghe rock nào cũng phải biết đến. "For Whom The Bell Tolls" được đặt theo tên cuốn tiểu thuyết "Chuông nguyện hồn ai" nổi tiếng của nhà văn Ernest Hemmingway trong thời kỳ Thế chiến thứ I. Kế tục những bài hát phản chiến trước đó, trong tác phẩm này lại vẽ ra 1 bức tranh về ngu ngốc của chiến tranh cùng cái ý thích giết ***c để thoả mãn tham vọng của 1 cá nhân nào đó. Nhưng chính "Fade to Black" mới làm sửng sốt thế giới metal lúc đó. Liệu có thể một ban nhạc rock mới nổi lại có thể là cha đẻ của một bản ballad hay đến như vậy? Mặc dù có những ý kiến chỉ trích rằng "Fade to Black" (Ngả màu tăm tối") cổ súy cho trào lưu tự sát, nhưng chính các fan lại cho rằng bài hát thực ra lại giúp đỡ họ vượt qua những thời khắc khó khăn nhất trong cuộc sống. Mỗi bài hát đề cập đến vẫn đề này đều là con dao hai lưỡi, nếu không hiểu đúng là có tác dụng tiêu cực khi chơi. Bài này được sáng tác khi thiết bị khuyếch âm của ban nhạc bị đạo chích hỏi thăm như đã nói ở trên, cũng không rõ có thành viên nào của Metallica có ý định tự sát không, như thực sự Fade đã làm nổ tung cả thế giới metal thời đó.

[img]http://www.codda.com/cliff/foto/metallica/cmet09.jpg[/img]

No one but me can save myself for it's too late
Now I can't think, think why I should even try
Yesterday seems as though it never existed
Death greets me warm, now I will just say goodbye.
Goodbye-----Fade to Black


[u][b]Master Of Puppets - 1986 [/b][/u]


[img]http://w3.one.net/~mariner/cds/METMOP.jpg[/img]

Album thứ ba của Metallica được nhiều người coi là album kinh điển, bước đột phá quyết định và hay nhất của họ, một trong những album đỉnh cao của thrashmetal. Với Master, Metallica đã thực sự nổi bật lên như 1 hiện tượng trong làng metal, tuy nhiên vẫn chưa thực sự được các nhà băng đĩa hàng đầu chú ý vì độ dài các bài hát. (nhưng lại là 1 trong những yếu tố mà các TallicaFan tôn sùng).



Những giai điệu tàn nhẫn, cuồng nộ, dồn dập của Metallica qua tay của phù thuỷ âm thanh Flemming Rasmussen đã trở thành những bản mẫu tiêu biểu cho thể loại thrash metal. Vẫn mở đầu bằng một đoạn guitar acoustic ( trong "Battery") giống như album trước và ca khúc mở đầu "Battery" cũng là một bản tụng ca của sự tàn bạo nhưng tôi đánh giá cách mở đầu của album này cao hơn Ride the Lightning. "Battery" thực sự là sự khởi đầu hoàn hảo cho một album kiểu như Master Of Puppets với những ca từ có vần điệu nhịp nhàng "Smashing through the boundaries, Lunacy has found me, Cannot stop the Battery, Pounding out aggression, Turns into obsession, Cannot kill the Battery, Cannot kill the family, Battery is found me, Battery!!!" trên nền guitar dữ dội vũ bão và tiếng trống rất sôi nổi của Lars Ulrich. Ngay tiếp sau đó là ca khúc kinh điển "Master of Puppets" thực sự kích thích giác quan của người nghe lên đỉnh điểm, đây thực sự là một cuộc tổng tất công vào màng nhĩ của người nghe với tốc độ nhiều lúc lên tới không tưởng. Nó còn dành cho các fan 1 cảm giác nghỉ ngơi giả tạo lúc giữa bài trước khi lại bùng lên dữ dội, miêu tả sự ma lực khủng khiếp của ma tuý... cần sa thực sự là ông chủ của những con rối - con nghiện, đây là điểm gặp gỡ của một "War Pigs" ma quái và mỉa mai ( Black Sabbath) với nét đẹp phiêu diêu của "Innuendo" ( Queen ) trên nền là chất nhạc cuồng nộ và dồn dập đặc trưng của Metallica. Kirk Hammett có dịp trổ tài tung ra hàng loạt câu guitar xoắn xuýt, vũ bão kéo cảm xúc của người nghe đi hết từ trạng thái này sang trạng thái khác trong hơn 8 phút rưỡi. Trong album này, Metallica cũng tung ra một bài nữa dựa theo tác phẩm kinh dị của ông lão Lovecraft đã kể trên, đó là "The Thing That Should Not Be". "The thing that should not Be" là một câu chuyện mang nhiều chất tâm linh với những hình ảnh rùng rợn lạ thường "Crawling chaos, underground; Cult has summoned, twisted sound; Out from ruins once possessed; Fallen city, living death" được nhấn mạnh bởi đoạn solo ma quái của Kirk Hammett nghe như tiếng cười khoái trá của quỷ ."Welcome Home ( Sanitarium)" kể về cuộc nổi loạn của những bệnh nhân trong một nhà thương điên tìm cách thoát ra ngoài, được tạo cảm hứng bởi cuốn tiểu thuyết nổi tiếng "Bay trên tổ chim cúc cu" ( One Flew Over the Cuckoo's Nest ) của nhà văn Mỹ Kenn Keyse, đây cũng là một trong những cuốn sách được yêu thích và đã được dựng thành phim với diễn xuất của Jack Nicholson. "Disposable Heroes"- một ca khúc mang nhiều yếu tố phản chiến viết về kết cục tất yếu của những "anh hùng rơm" trong chiến tranh , lại gây shock cho người nghe từ đầu đến cuối ( Khi chơi ca khúc này lần đầu tiên vào tháng 12/1985 , Metallica đã làm náo loạn liên hoan Metal Hammer tại Hannover - Tây Đức ). "Leper Messiah" là lời mỉa mai về những kẻ thần phục một cách mù quáng vào tôn giáo đến mức trở thành nạn nhân của những trò bịp mà không hay biết. "Orion" là một bản instrumental tinh tế , sâu sắc và huyền bí đến lạ thường với những câu guitar lúc lả lướt bay bổng lúc trào dâng dữ dội, đem đến cho chúng ta hình ảnh rực rỡ và bí hiểm của chòm sao Orion - chòm sao sáng nhất trên bầu trời đêm cách Trái Đất 6 năm ánh sáng - được coi là hiện thân của thần Orisis, vị thần đã khai sinh ra vương quốc Ai Cập cổ đại. Cũng ở trong bản instrumental này một lần nữa Cliff Burton đã thể hiện tài năng kiệt xuất của mình với những ngón bass rất lạ. Và ca khúc cuối "Damage Inc." khép lại album trong bầu không khí nghẹt thở đến đáng sợ, đây cũng là cái tên mà Metallica đã chọn cho chuyến lưu diễn châu Âu năm 1986 và hình như nó báo trước những điều chẳng lành : Jaymz bị gãy tay khi ngã từ trên sân khấu xuống, và hic, trong một chuyến lưu diễn tại Thuỵ Điển, chiếc xe bus chở ban nhạc đã lật nhào, ngay lập tức đã mang đi một trong những tay bass kiệt xuất trong lịch sử nhạc rock, thiên tài yểu mệnh Cliff Burton qua đời ở tuổi 24 trên tuyến đường Copenhaghen - Stockholm, để lại cho người hâm mộ biết bao tiếc nuối.

[img]http://starirock.hr-free.com/metallica/images/cliff-1_jpg.jpg[/img]

Cliff Burton: sinh lúc 9:38 p.m. ngày 10 tháng 2, 1962 tại Castro Valley, California, anh mất ngày 27 tháng 9, 1986

Nhưng Metallica vẫn đứng vững trước sự mất mát quá lớn này, và họ nhận ra rằng ở thế giới bên kia Cliff cũng muốn họ tiếp tục như vậy. Ban nhạc thu nạp thêm tay bass Jason Newsted từ Flotsam&Jetsam (cũng rất nổi tiếng) để lấp vào khoảng trống này. Trong khoản thời gian trên, Garage Days Re-Revisited được thu thanh năm 87 như là một thử nghiệm để giúp Jason vào guồng cùng với cả ban nhạc. Album này, nói một cách hơi "sến" - là một viên ngọc không hề có tì vết. Về phương diện thương mại, đây là album đầu tiên của Metallica giành được đĩa Bạch kim mà không cần phải quảng cáo gì nhiều, nước Mỹ đã nằm lại sau gót chân của kẻ chinh phục Metallica...

[u][b]...And Justice For All - 1988 [/b][/u]


Sau cái chết đầy mất mát của Cliff, các chàng trai của chúng ta đã vượt qua được thời kỳ khó khăn đánh dấu bởi sự ra đời của "...And Justice For All", một album mang chút hơi hướng black, đầy hận thù và có như tư tưởng đi ngược lại những chuẩn mực của luật pháp. "Blackened" mở đầu album với một tiếng nổ lớn lạ lùng phản ánh việc loài người đã tàn phá hành tinh này như thế nào và qua đó cũng chính là đào hố tự chôn mình. Ngay sau đó là bài hát mang tựa đề của album "...And Justice For All" là trộn lẫn của sự mỉa mai cũng như phản đối lại cái chính phủ đang bị đồng dollar sai khiến, nơi mà đồng tiền có thể mua được công lý. Chất metal được tiếp tục bằng bản "Eye of The Beholder", qua đó bộc lộ thói đạo đức giả của sự sửa đổi luật pháp vừa xảy ra tại nước Mỹ lúc đó, sự sửa đổi mà bề ngoài hứa hẹn đảm bảo quyền tự do ngôn luận, nhưng thực sự lại bị kiểm duyệt và hạn chế. Cũng trong album này, Metallica tung ra bản ballad thứ 2 của họ - One.... Đây có lẽ là bài hát được biết đến nhiều nhất trong danh sách các bài hát phản chiến.... kể về câu chuyện của 1 người lính được trả về từ chiến trường, với sự trống rỗng về tâm hồn... bị bỏ rơi một mình trong cái vỏ bọc của thân xác. Bài hát này cũng là video đầu tiên của ban nhạc, trong video có sử dụng các hình ảnh của bộ phim "Johnny's Got his Gun" - một bộ phim có cùng nội dung với bài hát . Một cống hiến cuối cùng của Cliff Burton được ghi nhận trong "To Live is To Die", mặc dù Cliff đã chết vào thời điểm album được phát hành. Bài hát được viết nên từ rất nhiều các cú riff mà Cliff đã viết, và 1 đoạn lời ngắn trong bài cũng được lấy từ 1 bài thơ của anh. Tiêu đề của "To Live is To Die" tự thân cũng đã hàm ý rằng cái chết là một phần tất yếu của cuộc sống, và dường như nó cũng phản ánh tâm trạng của Metallica. Giữ hình ảnh của Cliff trong tâm khảm, nhưng họ vẫn phải tiếp tục tiến bước đến thành công...

"When a man lies, he murders some part of the world. These are the pale deaths which men miscall their lives. All this I cannot bear to witness any longer. Will not the kingdom of salvation take me home?"-----To Live is to Die, lời viết bởi Cliff Burton

[u][b]Metallica - 1991 [/b][/u]


[img]http://www.lyrics.com/m/metallica/metallica.jpg[/img]

Album đoạt giải Grammy này đã quá nổi. Và nó cũng thực sử nổi lền phềnh trên top 100 của bảng xếp hạng Bilboard trong nhiều năm kể từ khi phát hành. Với album này, Metallica đã khiến metal thực sự được chú ý và nổi tiếng, một thành quả mà có lẽ chỉ Black Sabbath - ông tổ của metal - có được.



Được biết đến với cái tên không chính thức là "Black Album" (ở Việt Nam gọi trống không là album 91, nó đã sản sinh ra một loạt các tác phẩm xuất sắc . Chuỗi thành công này được khởi đầu bằng "Enter Sandman", rất hay mặc dù chỉ là một bản rock đơn giản, về cách chơi cũng như lời ca. Bài thứ hai, "Sad But True" nổi lên với những cú giật đột ngột khủng khiếp, trong đó James đóng vai một ma quỷ đang nói chuyện với một vật thể đã bị tước đoạt hết suy nghĩ và trở thành vật cống nạp vô tri vô giác. Môt hit nữa cùng "Nothing Else Matters" cũng lặng lẽ tiến vào các bảng xếp hạng là "The Unforgiven" (những kẻ không được tha thứ, kể về một người từ bé đã được dạy bảo chỉ để tuân lệnh và khi về già trở nên căm phẫn những ai đã ngăn cản không cho anh ta được làm chính mình. Một bài hát được ưa thích khác là "Wherever I May Roam", trong đó hiện lên hình ảnh của một kẻ lang thang... và tâm hồn của hắn vẫn tiếp tục lang thang sau cái chết. Và thật kỳ lạ, niềm tin của Metallica vào nước Mỹ lại sống lại trong "Don't Tread On Me", một sự cổ suý cho nền quân sự quốc gia. Cái tên Don't Tread On Me được lấy từ các lá cờ trên các tàu Thuỷ quân trong thời kỳ cách mạng nước Mỹ.

Cả cái hình con rắn trên bìa album cũng giống với hình trên những lá cờ này. Và cuối cùng, "The God That Failed" dường như là một bài hát cá nhân dành riêng cho James. Bằng việc kể một câu chuyện về cặp vợ chồng xuất thân từ gia đình Thiên chúa giáo đã chấp nhận những con của họ bị chết mà không nhờ đến y học chạy chữa, James qua đó đã giáng một đòn vào thứ Tôn giáo mà anh tin đã thực sự giết chết mẹ của James. ( gia đình James cũng có nguồn gốc Thiên chúa Giáo, và căn bệnh ung thư đã cướp đi ngừơi mẹ của James... mẹ anh từ chối sự chạy chữa và khăng khăng tin rằng rồi Chúa sẽ giúp bà.(?!). Bệnh tình ngày càng nặng, bà vẫn từ chối y học và đã chết.) Và trong trường hợp này chính là The God That Failed.

"I see faith in your eyes.
Never you hear the discouraging lies.
I hear faith in your cries.
Broken is the promise, betrayal.
The healing hand held back by the deepened nail.
Follow the God that failed."-----The God that Failed

[u][b]Load - 1996 [/b][/u]



[img]http://www.rockdiscography.com/coversiq/metallica/metallica_load.jpg[/img]

Gần 6 năm sau quả bom tấn 1991, Metallica mới trở lại với diện mạo mới (hic, mới nhưng mà nhiều người không còn thích như trước nữa). Trong những chuyến liên miên sau "Black Album", James Hetfield và một người kỹ thuật viên sân khấu đã có xích mích, và vô tình dẫn tới một luồng khí ga đã đốt sạm một phần mặt của anh. James đã phải cắt tóc... và khi tung ra "Load", các thành viên ban nhạc đều đóng complet.

Tuy nhiên, sau khi đã mất đi một phần metal, nhiều fan đã cho rằng đã bị Metallica bán rẻ, rằng ban nhạc đã chạy theo xu hướng Alternative bằng album mới và bộ dạng mới này. Hầu hết các bài đã không còn nhiều "ý nghĩa" so với trước kia, hoặc có thể vẫn còn ý nghĩa, nhưng được đội lốt bởi vẻ bề ngoài thiểu nghĩa. Đĩa đơn đầu tiên được tung ra của album là "Until it sleeps", ngay sau đó là "King Nothing", "Hero of The Day", và tiếp theo là 1 bản blues "Bleeding Me" cùng "Ain't My Bitch". Một bài hát khác, tuy nhiên không được phát hành đĩa đơn, là "Ronnie".... kể một câu chuyện về 1 kẻ sống ngoài vòng pháp luật, và anh ta đã mất phương hướng như thế nào sau một cuộc tàn sát đẫm máu. Nhưng có lẽ điểm gây chú ý nhất của album là "Mama Said", qua đó James lại kể cho chúng ta nghe một câu chuyện về người mẹ của anh. James đã luôn muốn xa lánh mẹ mình cho đến khi mẹ anh chết... và anh nhận ra rằng mình đã mất bà mãi mãi. Nhiều người chỉ trích rằng bài này mang hơi hưởng của nhạc đồng quê, khi ban nhạc đã sử dụng một số nhạc cụ thường dùng trong nhạc "country", mặc dù bài hát này thực ra không theo phong cách "country". Một bài hát khác, bài cuối cùng của album này, "The Outlaw Torn"... có 1 chi tiết nhỏ... thực tế dài hơn tới 56 giây so với thời gian ghi trên đĩa CD (đĩa còn 56 giây nữa, thế là Metallica điền nốt vào bài này một đoạn guitar solo ở đầu và cuối bài...vì vậy ai có nghe album này thì lời nhé )

[img]http://www.artistdirect.com/showcase//rock/photos/metallica.gif[/img]

"Oh poor twisted me.
Oh poor twisted me.
I feast on sympathy.
I chew on suffer, I chew on agony.
And swallow whole the pain.
Oh, it's too good to be.
That all this misery
Is just for oh poor twisted me" ------ "Poor Twisted Me"

[u][b]Reload - 1997 [/b][/u]


Load ban đầu được dự định là album kép, nhưng sự chậm trễ đã khiến phải phát hành làm hai nửa. Mặc dù được sáng tác trong cùng thời gian với Load, nhưng "Reload" dường như có cảm giác khác. Đĩa đơn đầu tiên từ album này là "The Memory Remains", một bài hát có sự tham gia của Marianne Faithful.



Ý tưởng sau bài hát này là về một ngôi sao đã lụi tàn, bị rơi dần vào sự quên lãng và cuối cùng đã... đứt bóng. Một đĩa đơn khác "Fuel" là một liên kết đầy ẩn ý với bài "Motorbreath" của album Kill 'Em All. Reload là một đĩa khá hay, mặc dù được viết cùng thời gian với Load, nhưng đã chỉ ra được sự từng trải hơn của Metallica. Album dàn trải từ những bài hát nhanh và mạnh như "Fuel", đến những bản dân ca vùng Celtic "Low Man's Lyrics". Một ví dụ tiêu biểu của lời ca thông minh là "Why The Things Are"... bằng cách sử dụng hình ảnh ẩn dụ một cậu bé thức dậy trong căn phòng toàn đồ chơi, Metallica đã bổ sung thêm vào 1 bài hát phản chiến, công khai chỉ trích thực tế rằng có những đứa trẻ còn cả cuộc đời phía trước đã bị gửi đi chém giết lẫn nhau chỉ vì những ý thích chợt này sinh của các chính trị gia.



" One day you will see
And dare to come down to me
Now c'mon, c'mon now
Take a chance...that's right
Let's Dance"----------Devil's Dance

[u][b]Garage, Inc - 1998[/b][/u]

Đây là album có 2 đĩa, là bộ sưu tập những bài hát cover yêu thích của Metallica. Một thực tế rằng ngay cả những ban nhạc xuất sắc nhất cũng xuất thân từ các ban nhạc cover, và trong album này Metallica đã nói về gốc rễ của họ từ những bộ sưu tập các nghệ sỹ trong trào lưu "New Wave Of British Heavy Metal" (NWOBHM) của Lars cho tới những nghệ sỹ như Lynrd Skynrd. Bản "Sabbra Cadabra", một bài hát của Black Sabbath, được Lars gợi ý sau khi cả nhóm đã nhất trí không cover lại Black Sabbath các bài hát nổi tiếng kiểu "War Pigs".


[img]http://www.milliyet.com.tr/ekler/gazete_pazar/981206/muzik/images/muz2.jpg[/img]

Đĩa đơn đầu tiên được tung ra từ album này là "Turn The Page", ban đầu là của Bob Seger và được Metallica chọn vì hợp với quan điểm của họ về cuộc sống và chặng đường phía trước. Còn "Die Die My Darling" là một bài hát của Misfits, về lyrics thì gần giống với "Last Caress". Trong khi bản "Mercyful Fate" là một sự tổng hợp 5 bài hát của Mercyful Fate (cùng với Venom và Bathory được coi là những người mở đầu cho BlackMetal). Sự lựa chọn lạ lùng nhất là "Whiskey In The Jar" - là một bài dân ca Ai Len được rock hoá bởi Thin Lizzy (kể về câu chuyện 1 gã bị vợ cắm sừng, giết một tên sỹ quan và sau đó phải ngồi tù mọt gông !?). "Tuesday's Gone" là một bài hát của Lynrd Skynrd và được James đề nghị cho cả nhóm, bởi chất heavy của họ gây ấn tượng với anh. Còn một bài nữa, "Am I Evil?" thực chất là một sáng tác của Diamond Head (ban nhạc gây ảnh hưởng nhất đến Lars Ulrich). Trong khi "Blitzkrieg" được sáng tác bởi ban nhạc cùng tên (hẹ hẹ, bọn này chỉ tồn tại một khoảng thời gian vừa đủ dài đển sản sinh ra đúng 1 bài hát đó, hic). Còn bài "Breadfan" là 1 cover lại của Budgie, và mặc dù về giai điệu không có gì đặc biệt nhưng được coi là một trong những bài cover hay nhất của Metallica. Bốn bài hát cuối là lấy từ nhạc hội Motorheadeach 95 (nghe rất vô học) kỷ niêm ngày sinh nhật lần thứ 50 của bố già metal Lemmy Kilmister của Motorhead.

[img]http://www.posternow.com/m/m3201.jpg[/img]

There's a devil crawling along your floor
And he's old and he's stupid and he's hungry and he's sore
And he's blind and he's lame and he's dirty and he's poor
(give me more give me more)-----Loverman